ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE
TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 7
anhsangmoi2015.com
anhsangmoi2015.org
----------------------------------------------------------------------------------------------------
THƯ CỦA ĐẢNG VIÊN PHẠM Đ̀NH TRỌNG
LỜI CUỐI VỚI ĐẢNG ( CSVN )
PHẠM Đ̀NH TRỌNG
Nhà văn
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 tháng 4 năm 2010
Kính gửi: Bà NGUYỄN THỊ KIM HOÀNG, Bí thư quận ủy Tân B́nh, TPHCM
Đồng Kính gửi:
Ông NGUYỄN VĂN ĐUA, Phó Bí thư thành ủy TPHCM
Ông TÔ HUY RỨA, Trưởng Ban Tuyên giáo trung ương
.
Thứ hai ngày 23.11.2009, tôi đưa Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản cho chi bộ. Hơn năm tháng sau, sáng ngày 26.04.2010, bí thư chi bộ Đặng Văn Quư thuộc đảng ủy phường 15, quận Tân B́nh, tpHCM đến nhà tôi giao quyết định khai trừ đảng đối với tôi. Quyết định do phó bí thư thường trực quận ủy quận Tân B́nh, tpHCM kí. Trong biên bản giao quyết định có phần dành cho người nhận quyết định ghi ư kiến. Tôi rất muốn có một số ư kiến nhưng v́ tôi vừa có khách đến đang ngồi đợi, tôi đề nghị cho giữ lại biên bản để viết ư kiến rồi gửi lại bí thư Quư sau. Bí thư Quư nói rằng phải nộp biên bản cho đảng ủy ngay. Tôi đành kí biên bản mà chưa kịp ghi ư kiến. Nay tôi có một số ư kiến về quyết định khai trừ đảng của quận ủy Tân B́nh đối với tôi. Để ngắn gọn, tôi sẽ không đề cập đến lí luận.
Chủ nghĩa Mác Lê nin là một lầm lẫn vĩ đại, khủng khiếp nhất trong lịch sử tư tưởng triết học loài người, đă đẩy loài người vào thảm họa lớn kéo dài gần suốt thế kỉ hai mươi, làm cho thế kỉ hai mươi trở thành thế kỉ đẫm máu nhất của lịch sử loài người. Tất cả những nước theo chủ nghĩa Mác Lê nin đều phải nhận những thảm họa vô cùng to lớn, dẫn đến cái chết thảm khốc của hơn một trăm triệu người!
Chủ nghĩa Mác Lê nin với học thuyết chuyên chính vô sản bạo liệt đă đưa đến cho nhân dân Việt Nam những thảm họa cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, xét lại chống đảng, cải tạo công thương nghiệp . . .
Chủ nghĩa Mác Lê nin với học thuyết chuyên chính vô sản bạo liệt đă xây dựng, h́nh thành lên bộ máy công cụ bạo lực đứng trên pháp luật, trấn áp, tước đoạt những quyền dân chủ cơ bản của người dân. Quyền ứng cử, bầu cử chỉ là h́nh thức. Người dân không được bộc lộ chính kiến khác với chính thống v́ thế báo chí tư nhân không được phép tồn tại!
Chủ nghĩa Mác Lê nin với học thuyết chuyên chính vô sản bạo liệt, tư hữu tư liệu sản xuất bị xóa bỏ, quyền sản xuất kinh doanh cá thể, quyền tự do hoạt động mưu sinh chính đáng không được chấp nhận. Xă hội không c̣n bóng dáng người chủ thực sự. Kinh tế tập thể sản xuất xă hội chủ nghĩa đă biến cả xă hội thành những người làm thuê vô trách nhiệm, đẩy xă hội xuống đáy vực thẳm nghèo đói và bế tắc những năm tám mươi thế kỉ trước.
Ở bước đường cùng chủ nghĩa xă hội, buộc phải t́m lối thoát duy nhất là từ bỏ những nguyên lí hăo huyền, sai lầm của chủ nghĩa Mác Lê nin, trở lại kinh tế thị trường tư bản, trả lại quyền tư hữu cho người dân, trả lại tư thế làm chủ cá thể cho những người biết sản xuất kinh doanh, biết làm cho đồng tiền sinh lời để họ trở thành động lực thúc đẩy cả nền kinh tế xă hội phát triển. Nhờ thế Việt Nam đă thoát khỏi vực thẳm, mở ra thời ḱ phát triển mới.
.
Chủ nghĩa Mác Lê nin, về lí luận đă được nhiều nhà tư tưởng hiện đại cả trên thế giới và Việt Nam chỉ ra những sai lầm, ấu trĩ, huyễn hoặc, về thực tiễn đă được cuộc sống thực trên phạm vi cả thế giới và thực tế Việt Nam chứng minh là thảm họa, bế tắc. Để tránh khỏi sụp đổ, Việt Nam đă thực sự chia tay chủ nghĩa Mác Lê nin, chia tay chế độ công hữu tư liệu sản xuất, nguyên lí cơ bản quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác Lê nin, trở về với tư hữu tư liệu sản xuất, trở về với ḍng chảy tiến hóa tự nhiên của xă hội loài người là mọi cá thể được tự do mưu sinh lương thiện làm ra của cải xă hội, tạo ra kinh tế thị trường.
.
Nếu thẳng thắn công khai thừa nhận sự giă từ chủ nghĩa Mác Lê nin th́ đảng Cộng sản, con đẻ của chủ nghĩa Mác Lê nin, không c̣n chỗ đứng, không c̣n vị thế độc tôn trong xă hội phi Mác xít. V́ thế, trong thực tế đời sống, đảng Cộng sản Việt Nam đă hoàn toàn giă từ chủ nghĩa Mác Lê nin nhưng vẫn duy tŕ một xă hội Mác xít để duy tŕ chỗ đứng, duy tŕ vị thế độc tôn cho đảng Cộng sản, trong khẩu khí vẫn phải hùng hồn tuyên bố tiếp tục đi theo chủ nghĩa Mác Lê nin và trong đường lối kinh tế phải tḥng thêm cái đuôi xă hội chủ nghĩa: Kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa! Thế là sự ngụy trang đă hoàn hảo! Cả hệ thống tuyên truyền đông đảo, hùng hậu cứ việc tấu lên bài ca: Chủ nghĩa Mác Lê nin măi măi là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta! Chủ nghĩa xă hội tươi đẹp là ước mơ ngàn đời của dân tộc ta! Kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa là sáng tạo vĩ đại của đảng ta!
.
Nào, xin hăy nhận dạng mô h́nh kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa để xem thực chất mô h́nh đó là ǵ và v́ sao có mô h́nh đó.
Kinh tế thị trường và xă hội chủ nghĩa, một loại h́nh kinh tế và một loại h́nh xă hội. Mỗi loại h́nh đều có mặt tốt, mặt xấu, mặt hay, mặt dở, đều có phần nhân văn và phần tàn bạo, có phần v́ con người lại có phần chống con người! Nếu loại bỏ cái xấu, kết hợp những cái tốt của hai loại h́nh này lại để tạo ra mô h́nh kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa th́ thật hồng phúc cho nhân dân Việt Nam. Nhưng thực tế kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa lại là sự kết hợp ngược lại, sự kết hợp của những cái xấu!
.
Chủ nghĩa xă hội có hai bộ mặt, tốt và xấu, nhân văn và tàn bạo đối lập nhau rất rơ. Chủ nghĩa xă hội là một mô h́nh áp đặt, cưỡng bức, trái tự nhiên. Để áp đặt và duy tŕ được mô h́nh trái tự nhiên đó, chủ nghĩa xă hội phải xây dựng một hệ thống công cụ bạo lực đông đảo, mạnh mẽ và vô cùng hà khắc, bạo liệt, được lí luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lê nin gọi là bạo lực chuyên chính vô sản. Bộ máy bạo lực chuyên chính vô sản không biết đến pháp luật, chỉ biết có đảng, thẳng tay trấn áp mọi tư tưởng, mọi tiếng nói khác biệt với đảng, tước đoạt những quyền dân chủ cơ bản của một xă hội văn minh, tạo ra một không khí căng thẳng không b́nh thường trong xă hội, là nỗi đe dọa thường trực với trí thức, với các hoạt động văn hóa tư tưởng! Nhưng chủ nghĩa xă hội c̣n có bộ mặt vô cùng đẹp đẽ, hấp dẫn, mang tính nhân văn cao cả. Đó là chính sách phúc lợi xă hội chủ nghĩa. Giáo dục, y tế miễn phí là một nét son rực rỡ, là một giá trị nhân văn mà chủ nghĩa xă hội để lại trong lịch sử và ngày nay vẫn đang là niềm tự hào chính đáng của nhà nước Cuba xă hội chủ nghĩa.
.
Nền sản xuất công nghiệp ra đời tạo ra hai thành quả. Thành quả sản phẩm hàng hóa dồi dào dẫn đến xuất hiện kinh tế thị trường. Thành quả văn hóa tinh thần tạo ra nền dân chủ tư sản. Nền dân chủ tư sản đă pháp luật hóa quyền con người, quyền công dân, đă giải phóng tư tưởng, giải phóng sức lao động sáng tạo vô tận của lực lượng sản xuất. Kinh tế thị trường đ̣i hỏi và đặt ra những yêu cầu với những tài năng, trí tuệ. Trí thức được giải phóng tư tưởng, được đặt vào vị trí đi đầu trong lực lượng sản xuất, thành quả lao động trí tuệ được định giá xứng đáng dẫn đến sự nở rộ phát minh, sáng chế khoa học kĩ thuật, liên tiếp bùng nổ những cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đưa xă hội loài người lên những bước phát triển huy hoàng. Đấy là bộ mặt sáng láng, rực rỡ của kinh tế thị trường. Nhưng kinh tế thị trường ở buổi ban đầu của xă hội tư bản hoang dă đă tạo ra một xă hội nháo nhào chụp giật, tàn bạo tranh cướp trong ṿng quay hối hả t́m kiếm lợi nhuận. Đồng tiền trở thành chúa tể cuộc sống. Quan hệ con người với con người được Mác gọi là quan hệ “lạnh lùng trả tiền ngay”! Đấy là bộ mặt khác của kinh tế thị trường, bộ mặt tàn bạo ghê tởm!
.
Vậy kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa đă chọn lọc những ǵ từ h́nh thái kinh tế và h́nh thái xă hội trên? Kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa nên không thể chấp nhận tinh hoa của nền dân chủ tư sản. Cũng không có giáo dục, y tế miễn phí. Đi học từ mẫu giáo đă phải đóng tiền. Những năm học tiếp theo số tiền cha mẹ phải chi cho con đi học càng ngày càng chồng chất. Kinh tế thị trường hoang dă ngang nhiên hoành hành trong giáo dục và y tế. Ngành giáo dục làm tiền học tṛ đă trở thành vấn nạn xă hội nhức nhối từ nhiều năm nay. Ốm đau vào bệnh viện phải trả đủ các loại tiền! Từ quyển sổ khám bệnh mỏng tang cũng phải mua giá cao. Nhiều người bệnh nghèo đành nằm nhà đợi chết v́ không có tiền vào bệnh viện! Thế là kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa chỉ c̣n là sự kết hợp của “lạnh lùng trả tiền ngay” với bạo lực chuyên chính vô sản mà thôi!
.
Chủ nghĩa xă hội đến bước đường cùng phải cầu cứu đến kinh tế thị trường để t́m lối thoát. Nhưng kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa chỉ là lối thoát cho đảng Cộng sản mà thôi!
.
Thế giới đă qua thời kinh tế thị trường hoang dă. Nhân dân và đất nước ta cần một nền kinh tế thị trường văn minh như đang có ở tất cả các nước văn minh, một nền kinh tế thị trường có kỉ cương pháp luật, lành mạnh, b́nh đẳng, công bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các chủ thể kinh doanh, không bị phân biệt đối xử.
.
Những lựa chọn, những quyết định không v́ lợi ích của dân tộc, của đất nước mà chỉ v́ lợi ích của đảng, chỉ v́ sự tồn tại của đảng! Sự tha hóa, tham nhũng tràn lan của đội ngũ cán bộ đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam nhưng cuộc sống của cán bộ lănh đạo đảng cách biệt quá xa, cách biệt một trời một vực với cuộc sống nghèo khổ thiếu thốn của số đông công nhân và nhân dân lao động. Cái đức v́ nước v́ dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, cái đức cần phải có ở người lănh đạo đă không có! Nhận chức trước hết là nhận tiêu chuẩn, chế độ, nhận quyền lợi, bổng lộc do chức mang lại đă! Sau đó sẽ dùng quyền của chức để kiếm chác dài dài! Các quan của đảng chiếm đất của dân xảy ra ở khắp nơi là một trong những sự kiếm chác đó! Trong khi Tổng thống, Thủ tướng nhiều nước công nghiệp tư bản giàu có trên thế giới đều dùng phương tiện đi lại chung với dân. Nếu có dùng phương tiện riêng do công quĩ trang bị cũng chỉ dùng phương tiện tầm tầm như của dân để gần dân, ḥa vào với dânNước ta là nước Cộng sản, lại c̣n quá nghèo nhưng lănh đạo từ cấp tỉnh đều phải có xe riêng mua sắm bằng tiền thuế của dân. Có tiêu chuẩn được mua xe riêng nên họ đua nhau lấy tiền thuế của dân mua xe đắt tiền! Lănh đạo cấp cao ra đường th́ tiền hô hậu ủng, xe cảnh sát hộ tống trước sau, c̣i rú như cháy nhà, huyên náo suốt chặng đường. Dân chúng hốt hỏang, ngơ ngác vội dạt ra bên đường! Sự đi lại của dân phải ngưng lại cho quan lớn của đảng đi! Một cảnh tượng rất chướng mắt và lạc lơng. Rời khỏi những cuộc họp triền miên, rời khỏi căn pḥng máy lạnh kín mít, ra với nhân dân tất bật lo toan, ra với cuộc sống bề bộn, vật vă mà ra như thế th́ nào thấy ǵ? Thế là chỉ c̣n tiếp xúc với cuộc sống gay gắt, sôi động của đất nước bằng những báo cáo láo, làm sao thấy được cuộc sống thật của dân để đồng cảm, chia sẻ với dân? Chính những tiêu chuẩn chế độ, những qui định đầy đặc quyền đặc lợi lỗi thời của đảng đă làm hỏng cán bộ của đảng! Người dân nh́n cán bộ đảng không thấy người Cộng sản của giai cấp công nhân đâu cả, chỉ thấy lù lù những bậc đế vương vênh vang, măn nguyện, những ông quan phong kiến hợm hĩnh chỉ biết ḅn rút của công và bóp nặn dân! Uy tín của đảng xuống thấp chưa từng có!
.
Chủ nghĩa xă hội đưa đất nước đến khốn cùng th́ đảng t́m đến cái phao cứu sinh là kinh tế thị trường! Uy tín của đảng khốn cùng th́ đảng t́m đến cái phao cứu sinh là tấm gương, là uy tín Hồ Chí Minh. Kinh tế thị trường có thể cứu được đất nước khỏi suy sụp nhưng tấm gương và uy tín Hồ Chí Minh không cứu được uy tín của đảng v́ từ lâu đảng đă ḥan ṭan làm ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh và với những đảng viên tham nhũng rộng khắp như hiện nay th́ cuộc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là sự giả dối. Với bài viết “Ăn mày dĩ văng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” tôi đă thẳng thắn chỉ ra sự giả dối và những việc làm trái tư tưởng Hồ Chí Minh.
.
Thuốc đắng gĩa tật, sự thật mất ḷng. Đảng đă quá quen nghe những lời tung hô, tụng ca. Cấp trên chỉ quen chỉ thị, dạy bảo. Cấp dưới chỉ được vâng dạ chấp hành. Phê b́nh trong đảng chỉ là: Đồng chí c̣n thiếu sâu sát, tính t́nh c̣n nóng nảy, vân vân! Chỉ dám phê b́nh cá nhân với những khuyết điểm dễ chấp nhận, vô thưởng vô phạt, không ai dám đả động đến chủ trương, đường lối của đảng! Không ai dám phê b́nh hành xử của cấp trên. Nay một đảng viên thường như tôi lại dám phê phán đường lối, hành xử của đảng trung ương. Với tư duy xơ cứng, không vận động, không thức tỉnh, không tiếp nhận được hiện thực cuộc sống, chi bộ và đảng ủy nơi tôi sinh họat không thấy bài viết của tôi là một nỗi niềm đau xót, một phản biện trung thực, một đóng góp xây dựng tuy gay gắt nhưng chân thành, dũng cảm, đúng sự thật, vô cùng cần thiết cho đảng. Trong đảng lại không có dân chủ, chi ủy, chi bộ và đảng ủy không thảo luận dân chủ với tôi về những vấn đề tôi nêu ra. Chỉ có một lần hỏi tôi đă gửi bài viết tới đâu rồi ban kiểm tra đảng ủy độc đoán ra văn bản phê phán tôi, buộc tôi nhận khuyết điểm. Qua việc này tôi càng thấy rơ dân chủ trong đảng vô cùng h́nh thức, như t́nh trạng dân chủ trong xă hội ta hiện nay. Đảng viên chỉ được tụng niệm những điều từ trên dội xuống chứ không được suy nghĩ bằng cái đầu của ḿnh. Ba triệu đảng viên nhưng chỉ suy nghĩ bằng mười lăm (15) bộ năo không có ǵ là ưu tú của bộ Chính trị! Đảng viên chỉ được học nghị quyết của Trung ương chứ không được tham gia ư kiến với Trung ương! Kẻ sĩ sinh ra là để nói sự thật, nói lẽ phải, mang hiểu biết ra giúp đời. Nhưng dù là lẽ phải mà ngược với ư đảng th́ kẻ sĩ nói ra lẽ phải cũng phải rước lấy tai họa! Đầu những năm sáu mươi thế kỉ hai mươi, đảng có chủ trương di dân miền xuôi lên miền núi phá rừng khai hoang. Tiến sĩ Thái Văn Trừng lên tiếng khuyên can không nên đưa người lên phá rừng đầu nguồn gây sói ṃn đất đai, tăng nguy cơ lũ lụt th́ vị tiến sĩ uyên bác đầu ngành lâm nghiệp liền được cho ngồi chơi xơi nước đến hết đời! Không c̣n nữa những bài báo viết về rừng đầy trí tuệ, đầy tâm huyết kí tên Thái Văn Trừng! Đảng thể hiện được sức mạnh quyền uy và càng tự tin nhưng đất nước thiệt tḥi, nhân dân thiệt tḥi!
.
Đảng đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích dân tộc, coi sự tồn tại của đảng cao hơn sự tồn tại của dân tộc th́ đảng viên có chức quyền cũng đặt lợi ích của cá nhân họ, gia đ́nh họ lên trên lợi ích của đảng. Họ dùng chức quyền để mưu cầu lợi ích cho cá nhân họ, gia đ́nh họ trước đă. V́ thế những tiêu cực, bê bối, ĺnh x́nh tràn lan khắp nơi. Tiêu cực ở khắp nơi, ở mọi cấp nên việc xử lí vụ tiêu cực nào cũng dây dưa kéo dài và không vụ tiêu cực nào được xử lí đến nơi đến chốn. Trong t́nh h́nh ấy, đảng lấy tiền thuế của dân để có kinh phí rầm rộ tổ chức học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh suốt nhiều năm. In tranh ảnh, vẽ affiche, khẩu hiệu, xuất bản sách số lượng lớn. Họp hành, hội thảo liên miên. Sơ kết, tổng kết, tuyên dương, khen thưởng . . . Những việc đó đều phải tiêu tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân nhưng chỉ là những việc h́nh thức, phù phiếm, giả dối! Thật mỉa mai khi Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Măn được ban chỉ đạo Trung ương cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh tuyên đương là cá nhân tiêu biểu xuất sắc về học tập đạo đức Hồ Chí Minh th́ nhiều trang mạng liền đăng lại những vụ tai tiếng xảy ra chưa lâu của Bí thư Hồ Xuân Măn, trong đó có vụ cá nhân tiêu biểu xuất sắc về học tập đạo đức Hồ Chí Minh đă từng bị một cô tiếp viên nhà hàng tát vào mặt giữa bàn nhậu ở ngay mảnh đất cố đô Huế nơi ông trị nhậm! Cố tỏ ra cụôc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có kết quả thiết thực, cụ thể th́ lại càng lộ ra sự giả dối đau ḷng!
.
Thấy rơ cuộc vận động rầm rộ, ồn ào này chỉ mang tính h́nh thức, không thật ḷng, lại quá tốn kém tiền bạc của dân, tôi tham gia góp ư với đảng th́ bị phê phán, bị buộc kiểm điểm nhận khuyết điểm! Sự trung thực, thẳng thắn th́ không thể là khuyết điểm! Đảng không chấp nhận sự trung thực của tôi, không chấp nhận sự đóng góp chân thành của tôi th́ tôi đành ra khỏi đảng để ḷng trung thực không bị tổn thương, để tôi được yêu nước bằng trái tim của tôi và được suy nghĩ bằng cái đầu của tôi. Tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản là tôi đă tự khai trừ tôi ra khỏi đảngKhi tôi đưa cho tổ chức đảng bài viết Ăn mày dĩ văng... phân tích thấu đáo việc làm không thật ḷng của đảng là tôi ở vị trí đảng viên đóng góp với đảng, một việc làm b́nh thường và cần thiết. Lúc đó tôi rất chờ những cuộc gặp với tổ chức đảng để nh́n nhận sự việc. Nhưng không có nếp sinh họat dân chủ trong đảng, đảng viên và tổ chức đảng cơ sở lại không có tư duy độc lập. Với họ, phàm là đảng cấp trên th́ phải đúng! Cấp trung ương càng không thể sai! Tôi phê phán đảng cấp cao nhất là tôi không c̣n trung thành với đảng nữa. Tổ chức đảng không cần gặp tôi, lẳng lặng viết kết luận buộc tội tôi rồi gọi tôi đến nghe một bản luận tội nặng nề đầy áp đặt! Nhưng khi tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng là tôi đă không c̣n là đảng viên nữa, mọi cuộc gặp của tôi với tổ chức đảng không c̣n cần thiết nữa, lúc đó tổ chức đảng lại nhiều lần mời tôi đến gặp! Một lề lối làm việc vừa thiếu dân chủ, vừa quá quan cách, nhiêu khê, hành chính. Và sự nhiêu khê hành chính ấy đă cho ra đời Quyết định khai trừ đảng đối với tôi sau khi tôi đă tự rút ra khỏi đảng hơn năm tháng trời!
.
Dù tôi đă ra khỏi đảng nhưng đảng vẫn dành cho đảng quyền khai trừ tôi. Nhận cái văn bản thể hiện cái quyền của đảng, trong tôi chợt có suy nghĩ xót xa về đảng: Đây là cái sai khai trừ cái đúng, cái giả dối khai trừ cái trung thực, cái vô cảm khai trừ cái mẫn cảm và những rôbốt khai trừ con người! Khi một con người, một tổ chức đang tha hóa th́ sự khai trừ này diễn ra trong chính con người đó, tổ chức đó!
.
C̣n nghĩ xót xa về đảng như vậy là tôi c̣n đau đáu với đảng lắm! V́ đảng đă là ṭan bộ quăng đời làm việc, chiến đấu và cống hiến hết ḿnh của tôi. Tôi viết những ḍng này cũng là v́ đảng, hoàn toàn không phải v́ tôi.
Xin cảm ơn.
Trân trọng
Nhà văn Phạm Đ́nh Trọng từ bỏ đảng tịch đảng viên đảng Cộng sản
Nhà văn Phạm Đ́nh Trọng sinh năm 1944 tại Hải Pḥng, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Một số tác phẩm của ông đă xuất bản bao gồm: Rừng và biển (1981), Một sự nổi tiếng (1987), Sự tích đảo (1993), Cuộc gặp gỡ muộn màng (1994), Ve ve nói chẳng thèm nghe (1995), Niềm vui lớn của mẹ (2004), Một thuở (2008)…
-----------------------------------------------------------------------------
THỰC TẾ VÀ THỰC TIỄN CỘNG SẢN
Ngày hôm nay, tại Việt Nam, dưới chế độ bạo tàn cộng sản, hạ thấp tất cả mọi giá trị toàn cầu và cổ truyền, đi theo chủ nghĩa thực tế, thực tiễn một cách quá độ, cho rằng hễ có quyền, có tiền là có tất, có cả lẽ phải, có cả chân lư và có cả đạo đức ; v́ quyền đẻ ra tiền, tiền đẻ ra sức mạnh, theo kiểu : « Tay mang túi bạc kè kè, nói khoác, nói lác, người nghe ầm ầm. »
Có phải vậy hay không. Chúng ta hăy cùng nhau xét vấn đề.
Hiện t́nh xă hội Viêt Nam và những kẻ tôn thờ chủ nghĩa quyền hành, tiền bạc và chủ nghĩa thực tế, thực tiễn quá độ .
Thực vậy, xă hội Việt Nam hiện nay là một xă hội vô nhân bản, tất cả những giá trị, từ toàn cầu đến những giá trị tốt đẹp cổ truyền bị khinh rẻ, kỷ cương bị đảo lộn, đạo đức suy đồi, giáo dục xuống cấp và băng hoại, gian dối, lừa lọc, mánh mung, bằng cấp giả lan tràn, mà phần lớn lại đến từ đảng đoàn cao cấp, con ông cháu cha. Cảnh một ông Phó Tỉnh Ủy kia có bằng cấp tiến sỹ Hoa Kỳ mà không biết nói tiếng anh ; một ông cán bộ cao cấp cưỡng hiếp các học sinh vị thành niên ; một bà giáo viên nọ bóp d.. học tṛ ; chỉ cần 3 sự kiện này cũng nói lên đủ t́nh trạng Việt Nam hiện nay. Có người t́m cách đổ lỗi cho văn hóa Việt dở, dân trí Việt thấp kém ; nhưng thực ra lỗi chính là tại giới lănh đạo, giới trí thức hèn mạt cộng sản, tại chế độ chính trị. Cùng một cây cam, nếu trồng nơi đất tốt th́ nó ngon ngọt, cũng cây cam đó, trồng nơi đất xấu, th́ nó trở thành chua. Cùng người Việt, nhưng ở hải ngoại, sống ở những nước tự do, dân chủ, nhân quyền được bảo đảm, những giá trị nhân bản toàn cầu được tôn trọng, th́ họ thành công, con cháu học hành đến nơi đến chốn, được những cộng đồng bản xứ và những cộng đồng khác nể v́. Thể chế chính trị, giai tầng lănh đạo giữ một vai tṛ rất quan trọng trong việc thăng tiến và phát triển xă hội. Gương Bắc Hàn và Nam Hàn cho chúng ta thấy rất rơ. Nam Hàn là cường quốc kinh tế thứ 10 và nền giáo dục là một trong những nước đứng đầu trên thế giới. Trong khi đó Bắc Hàn đang chết đối v́ theo chế độ cộng sản. Thế mà vẫn có những trí thức Việt ở hải ngoại cũng như ở quốc nội, hoặc v́ chẳng trí thức chút nào, v́ mù quáng không nh́n thấy, hoặc v́ nh́n thấy, nhưng quá hèn mạt, t́m cách bênh vực bạo quyền, đổ lỗi cho dân trí và văn hóa Việt thấp kém. Một xă hội tụt hậu về mọi mặt, tất nhiên có nhiều nguyên do. Nhưng đối với tôi, nguyên do chính của t́nh trạng đau thương Việt Nam hiện nay, vẫn là thể chế chính trị, giới lănh đạo và một số trí thức hèn mạt bênh vực bạo quyền. Xă hội cộng sản là một « xă hội giết người, một guồng máy tạo ra sự lừa đảo, dối trá « , như chính lời tuyên bố của đương kim Tổng thống Nga Medvedev, trong dịp Kỷ niệm Chiến thắng Đệ Nhị Thế Chiến, với sự tham dự của giới lănh đạo cộng sản Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Một xă hội giết người, lừa đảo và dối trá, th́ những người sống dưới nó làm sao có thể thăng tiến và phát triển. Thế mà một số trí thức Việt vẫn không hiểu và nh́n ra !
Tội nghiệp thay !
Trong khi đó th́ người dân, mặc dầu không được học nhiều, nhưng họ lại nh́n thấy rơ hơn. Chẳng hạn bài vè dân gian sau đây nói về xă hội cộng sản Việt Nam hiện nay:
Đồng tiền là Tiên, là Phật, là sức bật của con người, là tiếng cười của tuổi trẻ, là sức khỏe của ông già, là đà của danh vọng, là lọng che thân, là cán cân của cộng lư.
Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao vậy ? Nguyên do từ đâu ?
Như trên đă nói, do nhiều nguyên do, nhưng trong đó có những nguyên do chính: Nguyên do chính và gần, đó là chế độ cộng sản giết người và đào tạo sự dối trá, lừa bịp. Nguyên do sâu xa, đó là lư thuyết của Marx tôn thờ sức mạnh vật chất, chủ nghĩa thực tế, thực tiễn quá độ, quên hết mọi giá trị nhân bản toàn cầu, cũng như cổ truyền, cho rằng có quyền, có tiền là có tất, như câu vè nói trên.
Marx viết:
“ Từ đó, chủ nghĩa cộng sản băi bỏ những chân lư muôn thuở; nó băi bỏ tôn giáo và đạo đức thay v́ cải tổ chúng, và như vậy, nó làm ngược lại tất cả những phát triển lịch sử trước đó …”
“ Cách mạng cộng sản là một sự đoạn tuyệt toàn diện với những chế độ cổ truyền về quyền tư hữu; và không có cái ǵ ngạc nhiên nếu trong tiến tŕnh phát triển của nó, cách mạng cộng sản đoạn tuyệt một cách tuyệt đối với những ư tưởng cổ truyền.” (K.Marx – Le manifeste du Parti communiste - trang 44 – Union générale d’éditions – Paris-1962).
Đây là một sự lầm lẫn to lớn về sự phát triển con người, xă hội, văn hóa và văn minh. Con người cũng như xă hội, văn hóa và văn minh phát triển từng bước một, có quá khứ, có hiện tại và có cả tương lai. Văn hóa, văn minh có thể định nghĩa nhiều cách khác nhau ; nhưng cũng có thể định nghĩa như thành quả từ thế hệ này qua thế hệ kia của việc làm con người nhằm cải tạo đời sống con người trên 2 phương diện vật chất và tinh thần : về vật chất ít nhất con người khi đói th́ có cơm ăn, khi rét th́ có áo mặc, khi bệnh th́ có thuốc uống, về tinh thần th́ đời sống con người càng ngày càng xa đời sống súc vật, cầm thú, có t́nh thương yêu đùm bọc nhau, những giá trị tinh thần như tự do, dân chủ, nhân quyền được tôn trọng, đời sống nghệ thuật mỗi ngày một được nâng cao. Nói một cách giản tiện, đời sống văn minh, văn hóa có thể ví như một cái cây : Rễ cây là quá khứ, thân cây là hiện tại, cành lá là tương lai. Rễ cây phải ăn xâu vào ḷng đất để hút nhựa lên nuôi cây ; thân cây phải to lớn để chuyển nhựa, cành lá phải rườm rà để thâu nhận không khí thập phương. Nay đoạn tuyệt với quá khứ, chẳng khác nào cắt đứt rễ cây, th́ cây làm sao sống nổi. Những xă hội cộng sản chủ trương đoạn tuyệt với quá khứ, trở nên vô đạo đức, vô kỷ cương, xă hội loạn là như vậy. Tất nhiên chúng ta cũng không chủ trương quá quay về quá khứ để quên hiện tại ; quá khứ cũng cần phải được điều chỉnh, tu bổ ; nhưng không thể hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ như Marx và những người cộng sản chủ trương, đưa đến t́nh trạng băng hoại đạo đức con người, con người trở thành những loài cầm thú, mạnh được yếu thua, cấu xé lẫn nhau, như những xă hội cộng sản chứng minh.
Marx không những chủ trương đoạn tuyệt tuyệt đối với quá khứ, mà con chủ trương chủ nghĩa thực tế, thực dụng, tôn thờ thực thế, thực dụng, sức mạnh vật chất một cách quá độ ; nhất là tay em của Marx sau này.
Netchaïev, đồ đệ của Bakounine và cũng là đồ đệ của Marx và Engels quan niệm :
« Một người cộng sản cách mạng phải là một con người vô đạo đức ( amoral), một kẻ ăn cắp, giết người, một kẻ lợi dụng thời cơ và một kẻ hối lộ. »
Marx viết :
« Câu hỏi lớn được đặt ra đó là đối với tư tưởng con người, có một chân lư khách quan hay không, câu hỏi này không phải là câu hỏi lư thuyết, mà là câu hỏi thực tế, thực tiễn. Phải trong thực tế, thực tiễn mà con người chứng minh chân lư, có nghĩa là thực tế, và là sức mạnh của tư tưởng con người, trong thế giới này và vào thời đại này. Sự bàn căi về tính chất hiện thực hay vô hiện thực của một tư tưởng tách rời thực tế chỉ là có tính chất lư thuyết, giáo khoa…. Tất cả đời sống xă hội bản chất là thực tế, thực tiễn « ( C’est dans la pratique qu’il faut que l’homme prouve la vérité, c'est-à-dire la réalité, et la puissance de sa pensée, dans ce monde et pour notre temps. La discussion sur la réalité ou l’irréalité d’une pensée qui s’isole de la pratique, est purement scolastique…. Toute vie sociale est essentiellement pratique). ( Thèses sur Feuerbach – trong quyển L’idéologie allemande – trang 138 và 141 – éditions sociales –Paris 1968).
Ở đây K. Marx cho rằng chân lư là sức mạnh thực tế, thực tiễn, sức mạnh vật chất. Nhưng không nhất thiết như vậy. Có những chân lư không dính dáng đến vật chất. Chính trong chiều hướng tư tưởng này mà những đồ đệ của Marx đă đi đến chỗ tôn thờ vật chất, kiểu như Staline, với câu hỏi « bất hủ « , trong thời Đệ Nhị Thế Chiến :
« Giáo hoàng có bao nhiêu sư đoàn ? «
Dạ thưa, Giáo hoàng không có sư đoàn, sức mạnh của vật chất của súng đạn ; nhưng Giáo hoàng có sức mạnh của tinh thần. Và ngày nay người ta càng thấy rơ vấn đề, khi người ta nh́n thấy Staline chỉ là một tay đồ tể, không những giết không biết bao chục triệu người dân vô tội Liên Sô mà cuả cả các dân tộc khác.
Từ đó những người cộng sản cộng thêm với một số trí thức thân cộng đă trở thành những kẻ giết người, cướp của, núp dưới chiêu bài chủ nghĩa cộng sản, giải phóng dân tộc, kiểu Tố Hữu : « Giết giết nữa bàn tay không ngừng nghỉ. Cho ruộng đồng cây lúa lại thêm xanh. Cho đảng bền lâu ! Cùng rợp bước chung ḷng ! Thờ Mao chủ tịch và Staline bất diệt. »
Bản chất của giới lănh đạo cộng sản từ tây sang đông, từ Nga qua Tàu tới Việt nam chỉ là những kẻ vô đạo đức, giết người, cướp của, những kẻ lợi dụng thời cơ, tham nhũng và hối lộ. Đúng như lời Netchaïev nói. Đó là nguyên do chính của trang sử đau thương của nhân loại vào thế kỷ 20 và nạn tụt hậu, chậm tiến, thoái hóa, vô đạo đức của những chế độ cộng sản c̣n lại như Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba ; chứ không phải văn hóa của những dân tộc này kém hay dân trí thấp.
Quả thật lịch sử nhân loại có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu, nhưng chưa có trang sử nào đau thương và đẫm máu bằng trang sử cộng sản, v́ chế độ cộng sản như lời bà đương kim Thủ tướng Đức Angela Merkel, lời đương kim Tổng thống Nga Medvedev : « Chế độ cộng sản tạo ra sự gian dối và lừa đảo, là một guồng máy giết người. » Những dân tộc Nga sô và Đông Âu đă can đảm đứng lên lật qua trang sử đau thương đó. Dân tộc Việt Nam, nhất là giới trí thức thân cộng, hăy can đảm nh́n ra sự thật, từ bỏ chế độ cộng sản, can đảm đứng lên đấu tranh để lật qua trang sử đau thương cộng sản, để viết lên trang sử tốt đẹp của tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền. (1)
Paris ngày 17/07/2 010
Chu chi Nam
------------------------------------------------------------
Các Nước ASEAN Như Nắm Cát Rời Nằm ở
Trung Tâm Cơn Lốc Thời Đại
Ly Dai Nguyen
July 21, 2010Hội Nghị Bộ Trưởng Ngoại Giao ASEAN lần thứ 43 (AMM 43) khai mạc sáng 20/07/2010 tại Hànội, ngoài những chủ đề thảo luận như hối thúc Miến Điện mở các cuộc bầu cử tự do công bằng khả tín. Các bộ trưởng đồng ư rằng: “Nga và Hoakỳ nên can dự nhiều hơn vào các cuộc họp Thượng Đỉnh Đông Á”. Hội nghị Thượng Đỉnh Đông Á (East Asian Summit- EAS) được thành lập năm 2005 gồm 16 quốc gia vùng Châu Á Thái B́nh Dương: mười nước Đông Nam Á là Asean; ba nước Đông Á là Nhật Bản, Nam Hàn, Trungquốc; hai nước Châu Đại Dương là Úc, New Zealand. 1 nước Nam Á là Ấnđộ. Ngoại trưởng Indonesia, Marty Natalegawa cho biết: “Các nước Đông Nam Á vừa quyết định mở rộng Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á, mời Hoakỳ và Nga tham gia. Đó là mong muốn tăng cường quan hệ với Washington và Moscow”. Phát biểu với hăng tin Pháp AFP, một nhà ngoại giao Đông Nam Á đă không ngần ngại xác định: “Trong bối cảnh ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Trungquốc ngày càng gia tăng trong khu vực, các nước Đông Nam Á cần phải t́m cách cân bằng thế lực đó, nếu không th́ ‘một nước duy nhất sẽ giữ vai tṛ thống trị”.
Nữ ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton có mặt tại Hànội trong hai ngày 22 và 23/07/10, để tham dự cuộc họp của ASEAN và Diễn Đàn An Ninh Khu Vực ARF, diễn đàn đó có sự tham dự của Liên Âu và Bắc Hàn. Vấn đề căng thẳng giữa Nam, Bắc Triềutiên sẽ chiếm ưu tiên cao trong nghị tŕnh. Nhưng c̣n việc Trungcộng dùng sức mạnh quân sự định nuốt trọn Biển Đông, trực tiếp đe dọa tới an ninh toàn vùng Đông Nam Á th́ vẫn bị lờ đi. V́ nước chủ tŕ các cuộc họp Asean và Diển Đàn An Ninh Khu Vực hiện nay là Việtcộng, vốn không dám làm trái ư quan thầy Trungcộng mà chỉ được áp dụng giải pháp ‘song phương’, không được theo giải pháp ‘đa phương’, nên Hànội không dám đề xuất việc ‘Tranh Chấp Biển Đông’ vào nghị tŕnh của diễn đàn Quốc Tế Đa Phương này. Nhưng trong thực tế th́ Hoakỳ lại dứt khoát kéo cả Thếgiới vào, để cùng giải quyềt vấn đề Tranh Chấp Biển Đông, bằng giải pháp đa phương. Đây là mối xung đột trầm trọng, tác động trực tiếp tới vận mệnh của Khối ASEAN và toàn vùng Đông Á Thái B́nh Dương. Bởi thế mới nói ASEAN đang nằm ở Trung Tâm Cơn Lốc Quốc Tế Thời Đại.
Trong khi đó, mười nước ASEAN vẫn c̣n là một nắm cát rời, theo đủ mọi chế độ, có đủ mọi khuynh hướng chính trị, đủ mọi tôn giáo chen kẽ, trái nghịch nhau ở mỗi nước và cả vùng. Ở đó, bốn nước là Tháilan, Campuchia, Malaysia, Brunei theo chế độ Quân Chủ Lập Hiến. Hai nước là Indonesia, Philippines theo chế độ Cộng Hoà. Hai nước là Việtnam, Lào theo chế độ Cộng Sản. Một nước là Miến Điện theo chế độ Quân Phiệt. Một là nước Singapore theo chế độ Dân Chủ Gia Trưởng. Về mặt tư tưởng, văn hóa, tôn giáo th́ năm nước, đại đa số dân theo Đạo Phật là Miếnđiện, Lào, Campuchia, Tháilan và trên 2/3 người Việtnam. Ba nước đa số dân theo Đạo Hồi là Indonesia, Malaysia, Brunei. Một nước đa số dân theo Đạo Chúa là Philippines. Một nước theo Đạo Khổng là Singapore. May mà những dân theo Đạo Hồi ở Đông Nam Á vốn ôn ḥa, chỉ có một thiểu số quá khích ở Philippines, Indonesia, không đủ sức tạo nổi phong trào Hồi Giáo Khủng Bố khuynh đảo chính quyền. Nhưng đáng ngại nhất là thứ chính quyền cộng sản ở Việt và Lào vẫn c̣n nằm trong ṿng khống chế của Trungcộng. Họ sẽ là lực lượng xung kích của Trungcộng khi thời cơ chín mùi. Nguy hiểm nhất vẫn là ‘đạo quân thứ 5’ của Trungcộng, vốn gồm những người Hoa cũ và mới đă và đang xâm nhập trong vùng Đông Nam Á, bằng nhiều h́nh thức, nhằm Thực Dân Hóa ASEAN một cách tiệm tiến.
Chính v́ vậy mà từ 15 năm nay, Mỹ đă phải nhập nội Việtnam cho bằng được. Vừa để giải tỏa tâm lư của các nước Đông Á không tin vào thiện chí của Mỹ. V́ Mỹ đă từng bỏ rơi đồng minh nhỏ bé là Miền Nam Việtnam. Vừa hoàn thành giai đoạn chót trong Chiến Lược Toàn Cầu của Mỹ là Diệt Phát Xít. Giải Thực Dân. Chống Cộng Sản. Ngăn Bành Trướng. Thực hiện kế hoạch mỗi Quốc Gia Tự Pḥng Vệ lấy nền Độc Lập của ḿnh, để chủ động gia nhập tiến tŕnh Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hoá và Dân Chủ Hoá Toàn Cầu. Riêng vấn đề Chống Khủng Bố chỉ là một vấn nạn ngoài dự trù Chiến Lược Toàn Cầu lâu dài của Mỹ. Hiện nay ai cũng biết, nếu Việtnam bị Trungcộng biến thành Tâytạng, Tâncuơng th́ toàn vùng Đông Nam Á sẽ bị Hán Hóa. Cũng may là Trungcộng v́ lư do tuyên truyền đề cao tinh thần Đế Quốc Đại Hán, nhằm cho toàn quân, toàn dân Tàu ăn bánh vẽ, để quên đi cảnh đói khổ cơ cực, tin vào tương lai huy hoàng do đảng cộng sản Tàu dẫn dắt nước Tàu trở nên bá chủ thế giới, thỏa măn ḷng tự tôn của các vị ‘Con Trời”. Nên họ đă phô trương quân lực và công bố làm chủ gần hết Biển Đông. Làm cho toàn khối ASEAN phải viện cầu tới sức mạnh quân sự của Mỹ, Nga, Ấn…để làm đối trọng với Trungcộng trong khu vực.
Tuy thực tế ASEAN chỉ là vùng cát rời, nhưng nhờ Cơn Lốc Quốc Tế Thời Đại băi cát đó đang buộc phải quyện lại với nhau, giờ đây chỉ cần có nước và xi măng là khối cát đó trở thành một tảng Bê Tông vững chắc. Nước là Ư Thức Tự Do Dân Chủ và Xi Măng là Luật Pháp Trong Sáng Nghiêm Minh. Có hai thứ này th́ mới hóa giải được tất cả các biên giới chế độ, những tư tưởng đối nghịch, những tôn giáo dị biệt. V́ Luật Pháp Dân Chủ do chính các công dân của mỗi nước tự do lựa chọn, nhằm làm kỷ cương chính trị bảo vệ mọi giá trị tự do, tự chủ, sáng tạo và mưu t́m hạnh phúc của mỗi con người, mỗi khuynh hướng chính trị, mỗi hệ thống tôn giáo, mỗi truyền thống văn hóa, để cùng tương dung, tương hóa tạo thành Nền Văn Hiến Viên Dung ngay trong cuộc sống của mỗi Quốc Gia, trong sinh hoạt Toàn Khối và chủ động gia nhập tiến tŕnh Toàn Cầu Hóa, Tất cả đều quy về cứu cánh tối thượng là Phụng Sự Con Người Toàn Diện cả về Trí Tuệ và Tâm Linh hướng thượng, lẫn Cuộc Sống Thực Tại Thăng Hóa không ngừng.
Như đă tŕnh bày ở phần trên, nếu Việtnam chưa Dân Chủ Hóa, vẫn tŕ trệ trong chế độ Cộng Sản Độc Tài Tham Nhũng, th́ không thể thoát khỏi bàn tay khống chế của Trungcộng. Dù cho người Mỹ có đầu tư rất nhiều, nước Mỹ có trợ giúp dồi dào cách mấy, Quốc Tế có cấp viện, cho vay nhiều bao nhiêu, th́ cũng chỉ chui vào túi tham của lănh tụ đảng viên có quyền có thế Việtcộng, chứ không thể cải thiện được đời sống toàn dân, nâng cao được dân trí và khơi dậy ư thức dân chủ. Và như vậy mong ǵ đóng góp hữu hiệu cho an ninh, thịnh vượng của toàn vùng. Vấn đề cấp thời là Việtnam cần Tự Do Truyền Thông Báo Chí để người dân có thể tiếp cận được với loài người tiến bộ. Phải có Tự Do Tôn Giáo để con người tự t́m lại tâm đức đă mất nơi ḿnh. Phải có Tự Do Lập Hội để tự bảo vệ cuộc sống của ḿnh và kiểm soát hữu hiệu được hành vi của chính quyền, khiến Lập Pháp ra Lập Pháp, Hành Pháp ra Hành Pháp, Tư Pháp ra Tư Pháp, chứ không là bù nh́n của Cộng Đảng như hiện nay.
LƯ ĐẠI NGUYÊN
Little Saig̣n ngày 20/07/2010.--------------------------------------------------------------------------
Hoa Kỳ đẩy mạnh quan hệ quốc pḥng với châu Á trong lúc
thách thức quân sự Trung Quốc gia tăng
Daniel Ten Kate
22-07-2010
Bộ trưởng Quốc pḥng, ông Robert Gates phục hồi quan hệ với lực lượng đặc biệt của Indonesia sau thời gian gián đoạn 12 năm khi Hoa Kỳ tăng cường hợp tác quân sự khắp châu Á và bày tỏ quan ngại về việc các lực lượng vũ trang Trung Quốc mở rộng.
Hoa Kỳ sẽ bắt đầu mối quan hệ “chừng mực và từng bước một” với quân đội tinh nhuệ, ông Gates cho biết hôm nay tại Jakarta, nơi ông đă gặp người đồng nhiệm của ḿnh, ông Purnomo Yusgiantoro và Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono. Ngoại trưởng Hillary Clinton hôm nay thảo luận hợp tác quốc pḥng với Việt Nam, một ngày sau khi bà và ông Gates khẳng định sự hỗ trợ quân sự cho Nam Hàn ở Seoul trước cuộc tập trận hải quân chung bắt đầu từ ngày 25 tháng 7.
“Sự quyết đoán của Trung Quốc đă gây ra mối lo ngại trong khu vực”, Ông Carlyle A. Thayer, giáo sư chính trị tại Học viện Quốc pḥng Úc ở Canberra, cho biết qua điện thoại. Các nước khắp châu Á “đang rất vui mừng v́ Hoa Kỳ đang mạnh tay”, ông nói.
Bà Clinton có thể gặp Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, ông Dương Khiết Tŕ tại Hà Nội vào ngày mai, nơi mà cả hai cùng 27 thành viên đang tham dự Diễn đàn Khu vực Asean, quy tụ [các viên chức] an ninh lớn nhất châu Á. Trung Quốc xem toàn bộ Biển Đông là của riêng họ, gạt bỏ các khiếu nại của đối thủ, và đang xây dựng một hạm đội trên biển để phô trương sức mạnh bên ngoài biên giới của họ.
Trung Quốc cắt đứt các trao đổi quân sự cấp cao với Hoa Kỳ trong tháng Giêng, về việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan và đă từ chối tham gia với chính phủ Obama trong việc quy lỗi cho Bắc Hàn đánh ch́m một tàu chiến Nam Hàn hồi tháng 3, giết chết 46 thủy thủ.
Che giấu bí mật
Ông Michael Mullen, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân, đă nói với quân đội Hoa Kỳ ở Hàn Quốc hôm qua rằng, không có khả năng nói chuyện trực tiếp với các lănh đạo quân sự của Trung Quốc, gây ra mối quan ngại.
Ông Mullen nói: “Tôi đă chuyển từ ṭ ṃ về những ǵ họ đang làm sang quan ngại về những điều họ đang làm. Tôi thấy việc đầu tư khá quan trọng vào các thiết bị cao cấp như: vệ tinh, tàu, tên lửa chống tàu, máy bay cao cấp”.
Hoa Kỳ xem Indonesia và Việt Nam là đồng minh chiến lược ngày càng quan trọng trong khu vực, Lầu Năm Góc cho biết trong một báo cáo hồi tháng 2. Cả hai quốc gia có biên giới ở Biển Đông, trong đó có hành lang biển quan trọng đối với thương mại thế giới, và là nơi các viên chức Hoa Kỳ nói rằng Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các nhóm đá nhô lên với trữ lượng dầu lửa và khí đốt chưa được chứng minh, đă được Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Brunei, Philippines và Malaysia, tuyên bố chủ quyền một phần hay toàn bộ, là tâm điểm của các căng thẳng.
‘Nhiều dầu hơn Iran’
Ước tính trữ lượng dầu và khí đốt khác nhau, một số nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy vùng biển có chứa dầu nhiều hơn Iran và khí tự nhiên nhiều hơn Arab Saudi, theo Cục Thông tin Năng lương Hoa Kỳ. Trung Quốc nói với một số công ty dầu khí quốc tế ngưng thăm ḍ tại các khu vực ngoài khơi mà Việt Nam coi là một phần lănh thổ của ḿnh, một viên chức Mỹ nói với Quốc hội năm ngoái.
Biển Đông, kéo dài từ Singapore tới eo biển Đài Loan, là “ khu vực gia tăng mối quan ngại”, ông Gates nói tại Singapore hồi tháng trước. Exxon Mobil Corp và BP Plc. là hai trong những công ty đă tạm ngưng các dự án trên biển do Trung Quốc phản đối, theo các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ.
Ông Gates và bà Clinton nhấn mạnh mối quan hệ với Việt Nam và Indonesia đă được cải thiện như thế nào. Quyết định phục hồi liên kết với các lực lượng của Indonesia có thể do sự tiến bộ của Indonesia trong việc chuyên nghiệp hoá quân đội, từ khi sự sụp đổ của nhà độc tài Suharto, ông Gates nói.
Việt Nam sắp trở thành “một quốc gia vĩ đại” và Hoa Kỳ muốn nâng mối quan hệ lên “cấp độ mới”, bà Clinton nói với các phóng viên tại Hà Nội. Bà đă gặp Phó Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Gia Khiêm, người đă nói rằng họ đă thảo luận các liên kết quốc pḥng và đă “để lại quá khứ đằng sau”.
Răn đe
Ngược lại, bà Clinton nói sự hiện diện của bà với ông Gates tại Seoul và các lệnh trừng phạt mới mà họ công bố đă t́m cách gửi sự răn đe rơ ràng cho Bắc Hàn sau khi đánh ch́m tàu chiến, rằng một ban hội thẩm quốc tế đă quy trách nhiệm cho ngư lôi đến từ một trong những tàu ngầm nhỏ của Bắc Hàn.
Tàu sân bay USS George Washington và ba tàu khu trục đă đến các cảng Nam Hàn cùng ngày, thể hiện sự cam kết của Hoa Kỳ trong khu vực. Các tàu đă đến trước cho kế hoạch diễn tập quân sự ngoài bờ biển Nam Hàn trong tuần tới.
Trung Quốc đă gia tăng quân sự trong thập kỷ qua, nâng cao khả năng ngăn chặn các tàu Mỹ và thực thi việc tranh chấp chủ quyền lănh thổ ngoài khơi. Năm ngoái, các tàu đánh cá Trung Quốc đă quấy rối hai tàu hải quân Hoa Kỳ trên Biển Đông, nơi lực lượng Mỹ đă tuần tra từ Đệ nhị Thế chiến.
“Đây là sự minh bạch đối với Trung Quốc, có lẽ là lạ lùng nhất bởi v́ khó có thể biết được chuyện ǵ đang xảy ra”, ông Mullen cho biết hôm qua.
Các Bộ trưởng Asean mời Hoa Kỳ và Nga tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, bao gồm mười thành viên trong khối Asean, Trung Quốc, Nam Hàn, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và New Zealand. Điều đó sẽ tạo ra một diễn đàn khác, nơi mà Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Trung Quốc mặt đối mặt.
Ngoại trưởng Thái, ông Kasit Piromya nói với các phóng viên tại Hà Nội: “Hoa Kỳ rất quan trọng đối với toàn bộ khu vực châu Á – Thái B́nh Dương. Sự hiện diện của họ ở đây với Đệ thất Hạm đội đảm bảo ḥa b́nh, an ninh và an toàn trên các tuyến đường biển”.
Ngọc Thu dịch
-----------------------------------------
Phát triển và Môi Trường Việt Nam
Mai Thanh Truyết
Từ giữa thập niên 80, chính sách kinh tế “Mở cửa” và “Đổi mới” tiếp ngay sau đó đă khai mào cho một chu kỳ tăng trưởng cho toàn quốc, đặc biệt ở thành phố Sài G̣n và các vùng lân cận, trong đó hầu hết các khu kỹ nghệ đều tập trung vào và chiếm hơn 35% tổng sản lượng quốc gia. Với tiềm lực kinh tế và lao động như trên, Liên Hiệp Quốc ước tính cần phải có thêm 10 ngàn cơ sở công kỹ nghệ mới hàng năm để có đủ khả năng thu dụng lượng lao động mới bước vào xă hội ước tính là một triệu mỗi năm.
Từ hiện trạng xă hội nầy, lănh đạo Việt Nam hiện đang vấp phải những lỗi lầm tương tự như những lầm lỗi của nhà độc tài Pinochet trong việc quản lư đất nước. Độc tài quân phiệt hay độc tài chuyên chính đều đưa đất nước đến cùng một hệ quả: sự diệt vong.
Họ không nghĩ rằng những khẩu hiệu “thay trời làm mưa”, “biến sỏi đá thành cơm”... không thể chuyển đổi và vực dậy một nền kinh tế èo uột v́ quản lư quá tồi tệ. Họ cũng v́ chủ quan mà thách đố cả thiên nhiên. Kinh Nhiêu Lộc đă được tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng nhưng vẫn không tống khứ được khối lượng nước dơ bẩn ra sông Sài g̣n.
V́ sao? V́ sông Sài G̣n chịu hấp lực của hiện tượng bán nhật triều nghĩa là trong một ngày có hai thủy triều lên và xuống. Nước ṛng chưa kịp rút hết ra sông th́ nước rong (nước lớn) đă tràn vào do đó nước bẩn phải bị ứ đọng lại trong kinh. Làm sao họ có thể thẩm thấu và giải đáp được câu hỏi v́ sao mực nước ở Tân Châu, Châu Đốc đă rút xuống (9/2002), trong lúc đó khu Tứ giác Long Xuyên lại bị ngập? Lư do giản dị là vùng nầy đă bị đê bao giữ nước lại thay v́ để cho nước lưu thông ra biển khi mực nước sông Cửu Long bắt đầu dâng cao.
Nh́n chung, nếu so với Chí Lợi về mặt địa dư và khí hậu, Việt Nam có nhiều ưu đăi của thiên nhiên hơn v́ thời tiết ít khắc nghiệt và vũ lượng của mưa thích hợp cho nông nghiệp. Nhưng ngược lại, Việt Nam phải cung cấp thực phẩm cho quá đông cư dân so với diện tích đất khai thác. Với ước tính khoảng 7 triệu mẫu đất canh tác cho cả nước, và 70% dân số là nông dân so với 30 triệu mẫu và 5,3% nông dân của Chí Lợi, số lượng đất canh tác sẽ ngày càng giảm thiểu so với mức gia tăng dân số trong tương lai. Nếu tính lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp, Việt Nam đă sử dụng một lượng thuốc cao hơn bốn lần lượng tiêu thụ ở Chí Lợi. Theo báo cáo của Bộ Thương Mại năm 2001, Việt Nam nhập cảng 34 ngàn tấn thuốc đủ loại, khoảng 12 ngàn tấn thuốc nhập lậu bị thu hồi, 130.000 tấn sản xuất trong nội địa và không kể một số lượng lớn thuốc lậu ước tính hơn 1,5 triệu tấn đă thoát ra khỏi hàng rào hải quan.
Về rừng, năm 1945, cả nước có 14 triệu mẫu rừng chiếm một diện tích là 43,8%. Nhưng hiện nay chỉ c̣n khoảng độ 17% diện tích rừng tự nhiên. Cũng theo ước tính, Việt Nam mất khoảng 200.000 mẫu rừng hàng năm, trong khi đó chỉ trồng lại khoảng 20.000 mẫu. Gần đây nhất, hiện tượng phá các rừng tràm, đước để nuôi tôm làm cho diện tích rừng ngày càng suy thoái thêm. Với t́nh trạng trên, ta có thể phỏng đoán rằng, mức độ xói ṃn, sự sa mạc hóa, sự hóa mặn, tệ trạng ô nhiễm...của đất sẽ xảy ra với tốc độ nhanh hơn so với t́nh trạng ở Chí Lợi.
Mặc dù phải đối diện với nhiều nghịch lư và mâu thuẫn trong bài toán phát triển quốc gia và bảo vệ môi trường, mặc dù cần phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong một quốc gia đang phát triển, lănh đạo Chí Lợi đă thấy rất rơ là cần phải cân bằng sản xuất, chấp nhận hy sinh một số thu nhập ngoại tệ nặng do xuất cảng để đổi lấy một t́nh trạng cân bằng hợp lư cho đất nước. Họ biết phải hy sinh để cứu lấy tài nguyên thiên nhiên, nguồn tiềm năng của quốc gia. Họ biết phải bảo vệ môi trường cho các thế hệ về sau mặc dù phải tiến chậm lại vài bước.
Các quyết định và cung cách giải quyết sáng suốt những vấn đề môi trường trên đă đem lại tin tưởng cho người dân, do đó Chí Lợi có được sự ổn định chính trị và xă hội trong nước. Từ sự ổn định trên, đầu tư ngoại quốc sẽ an tâm hơn để giúp đất nước nầy đẩy mạnh phát triển, mang nhiều quy tŕnh công nghệ tân tiến và “sạch” có khả năng làm tăng nhanh phát triển đồng thời giảm thiểu hay ngăn ngừa được ô nhiễm. Làm được như thế, Chí Lợi cùng một lúc giải quyết được hai vấn đề cho quốc dân: làm tăng phúc lợi cho người dân và bảo vệ được môi trường cho các thế hệ về sau, đi đúng theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc đề ra cho sự phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển là: 1- Tạo dựng tăng trưởng kinh tế; 2- Cân bằng môi sinh; 3- và Tiến bộ xă hội.
Tính tiêu cực trong phát triển
Đối với Việt Nam, nếu nh́n về các con số thống kê, không ai có thể phủ nhận mức phát triển tăng vọt hàng năm. Về mặt xuất cảng trên thế giới, Việt Nam được xếp hàng thứ nh́ về gạo, thứ ba về cà phê, cao su, tiêu, trà, điều. Các mặt hàng nầy đă chiếm vị trí quan trọng trong cán cân xuất cảng chỉ sau dầu hỏa. Ngược lại, Việt Nam phải trực diện với muôn vàn vấn nạn ô nhiễm môi trường như đă xảy ra cho Chí Lợi. Nhưng để đổi lại, người dân chẳng những không được hưởng những phúc lợi do xuất cảng đem lại mà c̣n phải chịu đựng thêm nhiều áp lực kinh tế trong đời sống hàng ngày và sức khỏe ngày càng bị đe dọa nhất là đồng bào miền Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Sản xuất càng tăng, nhưng ngược lại, mức sống người dân ngày càng thoái hóa! Theo sách Le Dossier Noir du Communisme do Michel Tauriac xuất bản tại Pháp (4/2001) th́ hiện có 80% dân chúng Việt Nam sống với ít hơn 1 Mỹ kim/ngày và 12 triệu người vẫn thường xuyên bị đói. Có 69,5% trẻ em đang trong t́nh trạng thiếu dinh dưỡng và nghịch lư hơn nữa là có từ 500 đến 1.000 đảng viên là triệu phú đô la! Và các số liệu trên có chiều hướng tăng thêm trong hiện tại.
Các nghịch lư trên đưa đến những mặt tiêu cực sau đây:
· Nhiều dịch vụ phát triển quá nhanh chóng và không được điều nghiên kỹ lưỡng như việc thiết lập các trung tâm giải trí, khách sạn, sân golf.. . với mục đích phục vụ cho người giàu và ngoại quốc tạo thêm ranh giới cách biệt giữa tuyệt đại đa số quần chúng và một nhóm thiểu số “tư bản mới”.
· Một số tư bản mới đă thành h́nh, từ đó phát xuất ra thêm nhiều mâu thuẫn và hệ lụy tiêu cực trong hệ thống quyền lực kinh tế-chính trị. Chính hai mặt tiêu cực trên đă là một trong nhiều nguyên nhân chính tạo nên khủng hoảng xă hội gần đây nhất và làm giảm dần mức tăng trưởng kinh tế từ 10% ở những năm đầu đổi mới xuống đến 4% năm 1999, mặc dù Việt Nam vẫn c̣n quá nhiều nhu cầu cần phải cung cấp cho đất nước.
Việc tăng trưởng kinh tế-kỹ nghệ quá nhanh so với tốc độ trước khi có chính sách đổi mới, nhưng không đủ nhanh so với nhu cầu của quốc gia, đă tạo nên những biến động ảnh hưởng lên môi trường ở những vùng được phát triển mạnh. Tại các nơi trên, bầu không khí ngày càng ô nhiễm thêm. Thán khí cùng với nhiều kim loại độc hại như ch́, thủy ngân, manganese, chrome và một số hợp chất hữu cơ nhẹ làm dung môi trong quá tŕnh sản xuất đă được ghi nhận. Nguồn nước bị ô nhiễm, đặc biệt ở các vùng tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ các nhà máy vào hệ thống cống rănh.
Kết quả phân tích cho thấy ô nhiễm hữu cơ đă được ghi nhận ở Bến Than, thượng nguồn sông Đồng Nai, nguồn nước chính cung cấp nước cho cư dân thành phố. Ở nhiều nơi, chỉ dấu oxy ḥa tan (Dissolved oxygen-DO) giảm xuống đến 2.3 mg/L (nếu chỉ số DO xuống dưới 3,5, cá tôm sẽ không đủ nguồn oxy trong nước để có thể tồn tại được). Lượng E-coliform, vi khuẩn gây bịnh đường ruột và có thể làm chết người nếu không cứu cấp kịp thời, tăng trung b́nh tùy nơi từ 14.000 đến 480.000 MPN/100mL ở kinh Nhiêu Lộc (tiêu chuẩn cho nước sinh hoạt ở Hoa kỳ là 23MPN/100mL) (MPN, most probable number). Đặc biệt cũng tại Bến Than, độ mặn đo được vào giữa tháng 2/1999 (giữa mùa khô) là 400 mg/L. Tuy lượng chloride trong nước chưa đến mức báo động, nhưng đây là lần đầu tiên chỉ dấu trên báo hiệu sự nhiễm mặn đă xâm nhập vào thượng nguồn sông Đồng Nai. Đặc biệt, vào tháng 4, 2010, nghĩa là chỉ mới vào giữa mùa khô, nước mặn đă xâm nhập vào tận Cần Giuộc, chỉ cách Sài G̣n 15 Km, cũng như đă vào sâu tận Cần Thơ và Tân An… Ngoài ra, các ô nhiễm dầu, kim loại nặng đạt đến mức độ có thể tác động đến nguồn tài nguyên nước và con người. Hàm lượng thuốc trừ sâu như aldrin, diedrin, DDT (đây là những loại thuốc đă được xếp vào trong danh sách 12 hóa chất độc hại bị cấm sử dụng do LHQ đề ra) đôi khi vượt quá tiêu chuẩn của nước uống. Riêng arsenic, được trực tiếp phân tích từ các mẫu nước giếng mặt và giếng khoan trên nhiều nơi ở Việt Nam, đă hiện diện ở nhiều địa phương mà kết quả sơ khởi đă được ghi nhận như sau: 5ug/L (phần tỷ) tại Xóm Mới (Tp HCM); ở thị xă Biên Ḥa 35 ug/L (cho giếng khoan sâu trên 150m), 11,5ug/L (giếng mặt); thị xă Tân An, 8,5 ug/L (giếng đóng sâu trên 280m); thị xă Tiền Giang, 11 ug/L; và nhất là tại những nơi có nồng độ nhiễm mặn cao như B́nh Đại (Bến Tre), 37 ug/L; G̣ Công, 5,4 ug/L. Các kết quả trên cho thấy t́nh trạng ô nhiễm arsenic đă bắt đầu ảnh hưởng lên ĐBSCL.
Về các băi chứa rác, các băi chính không bảo quản đúng tiêu chuẩn như băi rác Đông Thạnh ở Hốc Môn đă xảy ra nhiều vụ “bể bờ” làm cho nước rỉ chảy tràn ra sông Rạch Tra và Sàig̣n năm 2000. Cũng tại nơi băi rác nầy, chính quyền đă chi ra trên 500 tỷ đồng (tương đương 32 triệu Mỹ kim) để xây dưng nhà máy xử lư nước rỉ. Nhưng tiếc thay, nhà máy chỉ hoạt động không hơn một tuần lễ sau khi khánh thành vào giữa tháng 7/2002. Ngoài ra, c̣n vô số băi rác “phụ” chen lẫn trong các khu dân cư đông đúc đă làm tăng thêm điều kiện cho các bịnh truyền nhiễm phát triển mà thôi.
Về ô nhiễm đường nước, một thí dụ cụ thể cho thấy tại Việt Tŕ (Bắc Việt), hàng năm các khu kỹ nghệ nơi đây đổ ra biển khoảng 35 triệu m3 nước thải kỹ nghệ, 100 tấn acid sulfuric H2SO4), 4000 tấn acid chloridric (HCl), 1300 tấn sút (NaOH), 300 tấn dầu đủ loại, và 24 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Một thí dụ khác là hàng năm nhà máy than đá Quảng Ninh đă thải vào vịnh Hạ Long 900 triệu tấn nước thải và bụi than làm ô nhiễm toàn vùng san hô vùng biển phía bắc và đông bắc vịnh Bắc Việt. Viện Hải Dương Học Nha Trang đă ước tính là có ít nhất 50% san hô bị hủy diệt ở vùng nầy và đă t́m thấy dấu vết của kim loại ch́ trong cá tôm. Đối với khu Tứ Giác Long Xuyên (ĐBSCL) độ mặn đă xâm nhập đến nhiều nơi và đạt đến mức 6,5 mg/L cũng như đă lấn sâu vào đất liền trên 100 Km.
Nh́n chung, t́nh trạng môi sinh ở Việt Nam đă đến mức báo động, nhất là ở các thành phố lớn mặc dù mức độ khai triển kỹ nghệ vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của dân chúng toàn quốc, chỉ tập trung váo những thành phố lớn mà không lưu tâm hay quy hoạch tùy theo điều kiện của từng địa phương. Hiện nay vẫn c̣n khoảng 75% dân chúng sống tập trung ở các vùng nông nghiệp, vẫn sống trong điều kiện sơ khai của thời đại phát triển kỹ nghệ.
Nguyên nhân của việc tŕ trệ phát triển cho những năm gần đây cũng như hiện trạng ô nhiễm ở Việt Nam có thể được tóm tắt vào những ghi nhận sau đây:
· Ảnh hưởng của sự sụp đổ hệ thống Cộng sản ở Nga sô và Đông Âu đầu thập niên 90 cùng với sự khủng hoảng kinh tế vùng Đông Nam Á ở những năm gần đây làm cho quốc tế ngần ngại đầu tư vào Việt Nam.
· Hệ thống tiền tệ Việt Nam chưa hoán chuyển được và chưa thiết lập được thị trường chứng khoán cùng các luật định ngân hàng phức tạp và thay đổi thường xuyên, không bảo đảm tối thiểu cho cuộc giao thương với bên ngoài.
· Hệ thống ngân hàng không hữu hiệu, chưa thể hiện nhiệm vụ đúng đắn trong dịch vụ trao đổi và không có tính xuyên suốt trong báo cáo. Thống đốc ngân hàng Nhà nước mới đây đă xác quyết nhiệm vụ của ngân hàng là phục vụ cho nhu cầu của quốc gia và dân chúng chứ không thi hành theo chỉ thị và mệnh lệnh của Đăng nữa (?). Nhưng xin thưa, đây cũng chỉ là những lời nói để xoa dịu áp lực dư luận mà thôi.
· Mặc dù có sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Á Châu (ADB), Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Chương tŕnh phát triển LHQ (UNDP).. . về tài chính và kỹ thuật cho việc nâng cấp và giải quyết các vấn nạn môi sinh ở Việt Nam do sự phát triển kỹ nghệ và nạn gia tăng dân số, nhưng hầu hết các hạng mục công tŕnh trên vẫn c̣n nằm bất động trên h́nh thức các dự án khả thi hay thực thi nửa chừng rồi biến thành những “dự án treo” do mức độ thi công tiến hành quá chậm do thủ tục hành chánh rườm rà và bất nhất cũng như các tệ nạn quan liêu, và tham nhũng.
· Việc phá hoại các rừng ven biển và việc dẫn nước mặn vào sâu trong đất liền để khai thác dịch vụ nuôi tôm là một trong những nguyên nhân chính cho việc nhiễm mặn. Ngay cả việc nuôi tôm, sau một vài mùa có thu hoạch cao, dịch vụ nầy lần lần đi vào phá sản v́ tôm con bị chết quá nhiều do hệ sinh thái thay đổi và môi trường sinh sống của tôm không c̣n đồng nhất như vùng nước mặn nguyên thủy. Việc thay thế chloramphenicol, một hóa chất được sử dụng như thuốc kháng sinh trong kỹ nghệ nuôi tôm đă bị cấm v́ không đáp ứng được tiêu chuẩn xuất cảng qua Liên Hiệp Âu châu và Hoa Kỳ, bằng rễ của cây thuốc cá có chất rhotenone cũng sẽ là một đề tài cần phải thảo luận và nghiên cứu lại trong kỹ nghệ nầy. Ảnh chụp từ vệ tinh năm 1999 cho thấy khoảng 100.000 mẫu tây ở ven biển Cà Mau, Bạc Liêu đă bị bỏ hoang trong số khoảng 200.000 mẫu đă khai thác trong thời gian 10 năm trở lại đây. Từ xa xưa, các rừng tràm, đước, vẹt.. . đă phát triển vững mạnh trong vùng nầy, thiết lập một hệ sinh thái thiên nhiên vừa cân bằng và cầm chân nước mặn tiến sâu vào đất liền, vừa là môi trường sống thích hợp cho tôm cá, do đó tôm khó thể phát triển lâu dài được v́ sự mất cân bằng trên.
· Trong những năm sau nầy, lănh đạo Việt Nam có khuynh hướng cứng rắn hơn trong việc điều hành quốc gia. Đường lối và chính sách hiện tại thể hiện sự bất an, bối rối trong quyết định trước những vấn nạn sinh tử của đất nước.
· Có nhiều thành phần tham gia vào việc phát triển Việt Nam. Đó là quân đội, công an, chính quyền, tư nhân, và ngoại quốc. Một khi đă nắm chặt quyền lực trong tay, cộng thêm sức mạnh kinh tế có sẵn, các thành phần như công an, quân đội, và chính quyền có khả năng tạo ra nạn kiêu binh có thể làm xáo trộn xă hội mà lănh đạo sẽ khó kiểm soát được. Điều nầy sẽ làm giảm thiểu mức đầu tư của dân chúng và nhất là đầu tư quốc tế.
· Đối với nhu cầu phát triển, điều kiện tiên quyết là phải có sự bàn thảo và đồng thuận giữa chính quyền và các tư nhân. Cho đến nay, sự hợp tác giữa chính quyền-tư nhân-ngoại quốc chưa được đặt trên căn bản công bằng và đồng thuận, do đó vẫn c̣n nhiều cản ngại trong việc giao thương quốc tế. Vẫn c̣n có nhiều thiên vị cho các đối tác có liên quan đến chính quyền. Công ty quốc doanh chiếm đa số vẫn c̣n được tài trợ và ưu đăi mặc dù làm ăn thua lỗ. Việc kiểm soát môi sinh c̣n quá lỏng lẻo đưa đến việc lơ là trong bảo quản và xử lư phế thải.
· Một số dự án có tầm vóc quốc gia, đối tác được chọn chưa thu thập đầy đủ dữ kiện nghiên cứu tác hại môi trường, nhân sự chuyên nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của công tŕnh, do đó nhiều dự án phải bị bỏ dở nửa chừng. Một công ty tư vấn ngoại quốc vừa mới tŕnh dự án khả thi để thải hồi 800.000 m3 nước sinh hoạt của thành phố Sài G̣n hàng ngày sau khi xử lư sơ bộ (cơ học) và thải vào sông Sài G̣n với mục đích vừa để giải quyết lượng nước thải của thành phố và vừa để ngăn chặn sự nhiễm mặn trong mùa khô (2000). Có cần phải xét lại tính khả thi của dự án về mặt kỹ thuật và ảnh hưởng tác hại lên môi trường hay không?
· Các công ty tư vấn ngoại quốc được Việt Nam mời đến để khai triển một số dự án kỹ thuật và tính khả thi trong từng điều kiện hiện có. Đôi khi Việt Nam dùng tư cách chủ nhà để “chỉ đạo” dự án hay sửa đổi không đúng với quy cách kỹ thuật làm cho dự án cáng khó được thực hiện hoàn chỉnh. Cũng có nhiều công ty ngoại quốc v́ muốn được trúng thầu mà thiết lập dự án khả thi khi chưa hoàn tất thủ tục điều tra cặn kẽ ban đầu. Điều nầy làm cho việc phát triển Việt Nam bị tŕ trệ về thời gian, tài lực, nhân lực, và nhất là làm giảm thiểu niềm tin của người dân về thực tâm xây dựng đất nước của những người có trách nhiệm.
Nhận diện được một số nguyên nhân căn bản đưa đến sự kiện chậm phát triển cho Việt Nam trong những năm gần đây, chỉ cần một ít động năo, việc truy t́m giải đáp cho bài toán phát triển cũng không khó vậy.
Ấu trĩ trong quản lư môi trường
Luật môi trường của Việt Nam đă được quốc hội chấp thuận và đem vào áp dụng kể từ ngày 8/1/1994. Luật nầy gồm 7 chương và 55 điều như sau:
· Chương I - Những quy định chung.
· Chương II - Pḥng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
· Chương III - Khắc phục suy thoái mội trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
· Chương IV - Quản lư nhà nước về bảo vệ môi trường.
· Chương V - Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường.
· Chương VI - Khen thưởng và xử lư vi phạm.
· Chương VII - Điều khoản thi hành.
Ngoài luật lệ môi trường, Việt Nam c̣n có một số luật khác liên quan đến môi trường như luật bảo vệ rừng, luật đất đai, luật dầu khí, luật đất lâm nghiệp. Nh́n chung đây là một bộ luật nói lên quy định và chính sách tổng quát trong việc bảo vệ và xử lư môi trường. Cá nhân và cơ sở sản xuất kỹ nghệ không thể nào căn cứ vào văn bản của bộ luật môi trường nầy để chấp hành luật pháp trong sinh hoạt sản xuất được. Lư do căn bản là bộ luật không minh định rơ ràng, và không có tính xuyên suốt.
Điều 37 trong chương IV quy định rằng nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Trái lại, trong Điều 38 lại quy định Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản lư nhà nước để bảo vệ môi trường. Trong lúc đó, cũng trong Điều 38 luật lại chỉ định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ quản lư nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương. Hai điều luật trên đây cho thấy tính mơ hồ và tṛng tréo về trách nhiệm trong việc quản lư môi trường. Ủy ban nhân dân, dù không có khả năng chuyên môn vẫn có đầy đủ tư cách pháp nhân để giải quyết các vấn nạn môi trường! Và kinh nghiệm đă chứng minh rằng, cho đến ngày nay, 17 năm sau ngày ban hành, có rất nhiều “sự cố” quản lư ở địa phương đă xảy ra trong khi đi t́m phương án để giải quyết “sự cố” môi trường. Mặc dù khả năng nhân sự và tài chánh không cho phép thực hiện một bộ luật môi trường chi tiết áp dụng cho tất cả mọi trường hợp-điều kiện như bộ luật của Hoa Kỳ (gồm trên 25.000 trang giấy cỡ chữ nhỏ), thiết nghĩ Việt Nam cũng có khả năng làm một bộ luật chi tiết hơn một văn bản gồm 17 trang giấy như bộ luật hiện hành với chi phí hai triệu Mỹ kim do Ngân hàng Thế giới tài trợ.
Viễn tượng tài nguyên bị cạn kiệt v́ sự khai thác quá độ để đáp ứng cho nhu cầu kinh tế cấp bách như: nạn phá rừng, đất đai bị tận dụng khai thác mà không có đủ thời gian để tái lập cân bằng cho đất, sử dụng phân bón và thuốc sát trùng bừa băi, tận dụng nguồn nước mặt và nước ngầm mà không điều nghiên kỹ lưỡng đến tác động môi trường, không khí và nguồn nước bị ô nhiễm. Nếu không t́m được một phương cách tiếp cận mới để tạo dựng một sinh lộ cho tương lai th́ h́nh ảnh một dân tộc triền miên sống trong nghèo đói, và không có sinh khí v́ thiếu dinh dưỡng và bịnh hoạn sẽ là h́nh ảnh của Việt Nam trong tương lai.
Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào cuối tháng 2/2000, James Wolfensoln, chủ tịch Ngân hàng thế giới đă khuyên Việt Nam rằng: “Việt Nam cần phải thiết lập một nền kinh tế dựa trên cơ sở kiến thức”. Lời tuyên bố trên vẫn c̣n có giá trị cho đến ngày hôm nay. Đây là một thông điệp chiến lược về phát triển kinh tế áp dụng không những cho Việt Nam mà cho tất cả các quốc gia đang phát triển. Cơ sở kiến thức là ǵ, nếu không là một cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật để thỏa măn ba yêu cầu phát triển do Liên Hiệp Quốc đề ra. Đó là tạo dựng tăng trưởng kinh tế, cân bằng môi sinh, và phúc lợi xă hội.
Thời đại cách mạng nông nghiệp đă qua rồi. Đổi mới để hội nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu mà chỉ dựa trên phát triển nông nghiệp để gia tăng phúc lợi cho đất nước chắc chắn không phải là một thượng sách cho Việt Nam ở thế kỷ 21 nầy.
Cực đoan trong quản lư đất nước
Từ các hiện tượng tiêu cực trong phát triển, ấu trĩ trong quản lư môi trường, lănh đạo Việt Nam c̣n thể hiện tính cực đoan trong quản lư đất nước. Đứng trước xu hướng toàn cầu hóa trong mọi lănh vực của con người, lằn ranh quốc gia, chủng tộc cũng lần lần phai mờ dần. Cùng với sự tiếp tay của các nước hậu kỹ nghệ, người dân ở các quốc gia đang phát triển ngày càng được tiếp thu và hấp thụ thêm nhiều thành quả của tiến bộ khoa học để cải thiện xă hội từng bước một. Tuy nhiên, cũng cần nhận rơ thêm nhiều mặt tích cực và tiêu cực của một số quốc gia Tây phương trong cung cách hành xử trước xu hướng trên để có cái nh́n khái quát về các phương cách tiếp cận môi sinh cho toàn cầu. Xin đan cử ra đây hai trường hợp điển h́nh để từ đó lănh đạo Việt Nam có thể chuyển hóa được những nét cực đoan trong việc quản lư và phát triển đất nước. Đó là trường hợp nước Đức và Pháp.
Pháp quốc và người Pháp luôn luôn tự hào là chiếc nôi của cách mạng dân chủ trên thế giới qua cuộc nổi dậy phá ngục Bastille năm 1789. Họ đă kiêu hănh v́ có một nền văn hóa ưu việt và một ngôn ngữ văn minh, tiến bộ nhất trên thế giới. Nước Pháp cũng là một trong những quốc gia đầu tiên phát triển công-kỹ-nghệ và có nền kinh tế thịnh vượng hàng đầu.
Nhưng đứng trước nhu cầu toàn cầu hóa, người dân Pháp đă thể hiện một số mặt tiêu cực có thể làm chậm lại tiến tŕnh đi đến gần nhau của các dân tộc trên thế giới để cùng giải quyết những vấn đề chung cho nhân loại. Các thí dụ điển h́nh sau đây liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao dịch quốc tế đă nói lên tính “cô lập” tiêu cực của người Pháp.
Kể từ năm 1994, chính phủ Pháp đă dự phóng tính toàn cầu hóa của nhân loại nên khuyến cáo về việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục, dịch vụ công cộng và trao đổi quốc tế. Claude Allegré, Bộ trưởng giáo dục Pháp thời bấy giờ đă yêu cầu các nhà nghiên cứu khoa học trong khi viết luận án hay báo cáo nên tŕnh bày bằng Anh ngữ. Nhưng cho đến năm 2010, hầu hết các tài liệu nghiên cứu từ Pháp vẫn được soạn thảo bằng Pháp ngữ; và đây là một cản ngại lớn cho thế giới và nước Pháp trong việc trao đổi các tiến bộ của khoa học. Hiện tại chỉ c̣n trên dưới 130 triệu người nói tiếng Pháp so với hơn 6 tỷ người hiện diện trên thế giới.
Tính cực đoan c̣n thể hiện trong việc trao đổi trong lănh vực hàng không. Các phi công Pháp vẫn tiếp tục cưỡng lại lệnh của chính phủ đề ra trong luật an toàn không lưu vào tháng 2/2000 về việc sử dụng Anh ngữ khi đi và đến phi trường De Gaulle (Paris). Hai sự kiện kể trên thể hiện rơ tinh thần tự măn và tự ái dân tộc cực đoan của người Pháp. Kết quả là hiện tại nước Pháp không c̣n ảnh hưởng mạnh về kinh tế-chính trị-văn hóa đối với các quốc gia đang phát triển như ngày xưa nữa. Vị trí của nước Pháp đă tụt xuống hàng thứ yếu cùng với các tŕ trệ về kinh tế-xă hội mà chính phủ Pháp đang phải đương đầu.
Trước kia, ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ Pháp rất quan trọng đối với Việt Nam. Vào giữa thế kỷ 20, có thể nói rằng hầu hết trí thức từ Bắc chí Nam đều sử dụng Pháp ngữ một cách rành rọt. Cho đến ngày nay, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học toàn quốc (2000) có 528.380 thí sinh, trong đó có 471.585 thí sinh chọn môn Anh ngữ làm ngoại ngữ chính, trong khi chỉ có 18.006 chọn Pháp ngữ và 5.801 chọn tiếng Nga. Số thống kê trên đă giảm rất nhiều cho kỳ thi trung học năm 2010.
Ngay trong lănh vực điện toán, cũng v́ tính cực đoan trên mà người Pháp đă để lộ ra những yếu điểm trong việc chuyển ngữ các danh từ thông dụng quốc tế mà đôi khi “không hiểu” ư nghĩa thực sự của các danh từ trên. Đại để như: CD rom ra Cédérom, start-up ra jeunes pousses(?),và lố bịch hơn nữa là stock option ra option sut titre(?). Theo lịnh của Liên Hiệp Âu châu (7/2002), các nhăn hiệu thực phẩm sản xuất từ Pháp phải ghi chỉ dẫn, công thức, liều lượng. .. bằng Anh ngữ. Điều nầy làm cho người Pháp càng thêm khó chịu.
Trên đây là những nét đặc thù thể hiện tính cực đoan của dân Pháp và đang là một cản lực lớn cho sự phát triển của đất nước nầy.
Trở về nước Đức, từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ, người dân và chính phủ Tây Đức trong ṿng 10 năm phải cưu mang hai vấn nạn chính:
· Một Đông Đức nghèo nàn và hạ tầng cơ sở cùng hệ thống công-kỹ-nghệ không c̣n phù hợp với cung cách phát triển mới.
· Dân sinh và dân trí người Đông Đức ở dưới mức trung b́nh quá xa so với người Tây Đức. Thêm nữa, sau gần 50 năm dưới chế độ Cộng sản, người dân Đông Đức không c̣n thấy một định hướng mới nào khác cho xă hội trước sự phát triển vượt bực của người anh em từ bên kia bức màn sắt.
Đứng trước t́nh trạng đó, thay v́ hành sử với cung cách của kẽ chiến thắng về kinh tế và chính trị đối với người chiến bại, chính phủ và người dân Tây Đức đă mở rộng ṿng tay cứu vớt đồng bào ruột thịt Đông Đức. Họ đă tân trang, chuyển vận các công nghiệp sạch qua Đông Đức cùng với việc hàn gắn vết thương ư thức hệ do một chủ thuyết không tưởng đă tạo ra sự nghèo đói cho phân nữa phần đất nước.
Theo ước tính, Tây Đức dự trù chuyển dịch từ 200 đến 300 tỷ Mỹ kim trong ṿng 20 năm tới để vực dậy kinh tế và xă hội ở miền đất nghèo khó nầy. V́ vậy khoảng cách kinh tế-kỹ thuật giữa hai miền đất nước lần lần được thu hẹp lại. Hai người anh em ruột thịt Tây và Đông Đức lần lần hội nhập vào sinh hoạt của một tổ quốc chung: quốc gia thống nhất Đức Quốc.
Về cung cách hành sử quốc tế, nước Đức thống nhất đă có tầm nh́n toàn cầu hóa bằng cách sáng lập và khai sinh đồng tiền chung cho Âu Châu: Euro Dollar. Nước Đức thống nhất không c̣n đứng về phía cánh hữu cực đoan và chính phủ Đức hiện tại đă chuyển vận theo xu hướng toàn cầu hóa về lập trường chính trị dưới sự lănh đạo của đảng ôn ḥa.
Về đối nội, nước Đức thống nhất đă xem đồng bào chính quốc như một. Về đối ngoại họ đă có cái nh́n vị tha hơn đối các quốc gia đang phát triển bằng cách mang đến cho các quốc gia nấy nhiều khoảng viện trợ không bồi hoàn và xóa nợ.. . hơn là tận dụng và bốc lột kinh tế-lao động.
Đức quốc, trong chiều hướng tiếp cận tương lai như trên đă có một tầm nh́n thật dân tộc, nhân bản và một hướng đi khai phóng phù hợp với nguyên tắc căn bản chân chính cho nhân loại để tiếp tục cuộc hành tŕnh vào thế kỷ 21. Tinh thần dân tộc cực đoan của người Đức, từng tự ví ḿnh như một chủng loại siêu nhân, đă nhường bước cho khuynh hướng xích lại gần nhau trên thế giới.
Nh́n lại Việt Nam, chính quyền hiện tại vẫn tiếp tục giữ trong đầu ư tưởng siêu việt, đỉnh cao trí tuệ để điều hành đất nước mà không chịu mở rộng tầm nh́n ra thế giới bên ngoài: thế giới của sự hợp tác hài ḥa và tôn trọng lẫn nhau. Một nước Việt Nam thống nhất nhưng đâu đây vẫn c̣n phảng phất mối ngăn cách vô h́nh của người chiến thắng và kẽ chiến bại!
Kết quả đă cho thấy trước mắt là, sau 35 năm thống nhất đất nước, cho dù có ư nghĩ hết sức lạc quan, Việt Nam không c̣n thể hiện một chỉ dấu nào chứng nghiệm cho khuynh hướng đứng đắn trong việc phát triển quốc gia nữa. Lănh đạo không t́m ra được hướng đi khả dĩ phù hợp cho sự hồi sinh của Việt Nam. Và người dân, như hàng thần lơ láo, quanh quẩn lo toan cho cuộc sống hàng ngày (mà vẫn chưa xong!) th́ đâu c̣n trí tuệ nào nữa để nghiền ngẫm đến việc bồi đấp quốc gia.
Lănh đạo Việt Nam đă áp dụng chủ nghĩa h́nh thức thể hiện qua hầu hết các điều luật, biện pháp, quy định.. . để quản lư đất nước. Nhân danh dân tộc, nhân dân để bào chữa cho những thất bại trong chính sách. Do đó, dân có nghèo thêm, có khổ thêm cũng v́ những h́nh thức luật pháp, h́nh thức dân chủ, h́nh thức tự do qua các Nghị Quyết. Làm sao người dân cảm thấy an toàn được khi mà đại đa số không đủ ăn, đủ mặc, không đủ nước sạch để sinh hoạt, nấu nướng, không đủ không khí trong lành để thở, vân vân và vân vân. Làm sao người dân gắn bó với quê hương và chế độ khi những điều kiện tối thiểu cho một cuộc sống b́nh thường không thể có được trên mănh đất thân yêu nầy.
Nước Việt Nam đă chính thức thống nhất từ năm 1976 về phương diện địa dư, nhưng t́nh tự dân tộc vẫn c̣n bị ngăn chặn do những rào cản vô h́nh. Người dân miền Nam vẫn c̣n mang nhiều uẩn khúc trong cuộc sống hàng ngày từ đó đến nay. Trái lại người miền Bắc, đa số c̣n đang hả hê với cuộc giải phóng miền Nam, mải mê tiếp thu xă hội vật chất trong Nam mà trong suốt cuộc chiến cũng như trong hiện tại, họ vẫn không thể h́nh dung được cái di sản “vĩ đại” của miền đất hứa nầy.
Đứng trước xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới, báo Nhân Dân ngày 6/7/2000 đă nói thay quan điểm của đảng Cộng sản Việt Nam trước sức ép của toàn cầu hóa:”Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, chúng ta, những người xây dựng chủ nghĩa xă hội, có thái độ và cần hành động như thế nào trước quá tŕnh toàn cầu hóa? Câu trả lời của chúng ta là: “hội nhập”, “mở cửa”, dĩ nhiên trên cơ sở nguyên tắc của chúng ta, v́ lợi ích của chúng ta, và trong hội nhập phải chủ động, phải căn cứ thực lực và không thể không cảnh giác, không thể quên đấu tranh, phải nên nhớ hội nhập mà không ḥa tan”.
Tuy nói như thế, nhưng cuối cùng bài viết cũng phải thú nhận để gở gạt rằng:”Nếu không tranh thủ được những cơ hội do toàn cầu hóa mang lại, dù là toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản chi phối nhu ngày nay, th́ chúng ta không thể xây dựng chủ nghĩa xă hội được”. Cơ hội đó đă xảy ra ngày 13/7/2000 sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam kư kết hiệp ước thương mại giữa hai nước.
Măi cho đến nay, cơ hội trên chỉ thể hiện ”cuộc tranh thủ” của Việt Nam qua việc thực hiện “toàn cầu hóa theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Và hiện tại, Việt Nam đă có quá nhiều thay đổi theo chiều nghịch. Quả thật vậy, sau hơn 20 năm áp dụng hiệp ước thương mại Mỹ-Việt, hiện tại vẫn c̣n quá nhiều phức tạp và rào cản trong thủ tục, nguyên tắc, luật lệ mà phía Việt Nam phải c̣n mất nhiều thời gian mới có thể thẩm thấu được “cuộc chơi của thế giới”.
Với cung cách suy nghĩ trên cộng thêm tâm khảm của một năo trạng nghi ngờ, mặc cảm phải tỏ ra chủ động và hội chứng chếch choáng hơi khói chiến tranh vẫn c̣n đâu đây, làm sao Việt Nam có thể hội nhập vào cộng đồng thế giới và tạo được một sự thông cảm toàn diện và đồng thuận ở cả hai mặt chính quyền và người dân như trường hợp của nước Đức được.
Làm sao có thể chấp nhận được khi Việt Nam qua báo Sàig̣n Giải phóng ngày 30/8/2002 đă nhận định về Hội nghị Thượng đỉnh về sự Phát triển Bền vững tại Johennesburg (Nam Phi) qua tuyên bố sau:”Các nước phương Tây định dùng viện trợ để trốn tránh trách nhiệm”. Qua nhận định trên, các quốc gia đă phát triển là nguyên nhân và phải có trách nhiệm cho việc suy thoái môi trường trên thế giới và phải có bổn phận “viện trợ” cho các quốc gia đang phát triển. Sự đổ lỗi nầy thể hiện năo trạng bệnh hoạn của một lớp người không c̣n đủ trí tuệ và lương tri để quản lư một đất nước đứng trước xu hướng toàn cầu hóa đang tiếp tục xảy ra hàng ngày.
Trách nhiệm thuộc về ai?
Tất cả những bất ổn, nghịch lư phân tích trên đây cho chúng ta nhận thức được một cách rơ ràng ai là người chịu trách nhiệm trong vấn đề quản lư đất nước. Đương nhiên, nhà cầm quyền hiện tại phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về t́nh trạng môi trường ngày càng đi xuống hiện nay. Hơn một phần tư thế kỷ sống trong ḥa b́nh, thiết nghĩ thời gian cũng đủ dài để thiết lập một xă hội ổn định cho Việt Nam. Nhưng tiếc thay, điều đó không xảy ra.
Hiện tại, trong nhiều cảnh vực kinh tế-khoa học-kỹ thuật-môi sinh, thế giới đanh chuyển ḿnh để biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang thành h́nh. Trong bối cảnh đó, ngày càng thấy rơ ràng mọi người đều có trách nhiệm. Những ǵ xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến ĐBSCL. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về t́nh trạng tụt hậu của Việt Nam.
Càng thiết tha, càng gắn bó với quê cha đất tổ càng thấy ḿnh có trách nhiệm. Trách nhiệm không là than thân trách phận, trách ông Trời không cho ḿnh gặp thời. Trách nhiệm không là thái độ đời đục ta trong, ẩn thân trong chùa, trong câu kinh tiếng kệ, trong nhà thờ, trong những thành tŕ luân lư, hoặc sớm tối trải ḷng ḿnh trong thi tửu. Trách nhiệm là một nhận thức thực tiễn, và trên căn bản đó có những thái độ và hành động tích cực hơn cho Đất và Nước. Nói lên tiếng nói, tạo một âm vang, khuếch đại một xu hướng, tạo dựng sức ép, nhưng nhất thiết, không đổ lỗi cho người khác để tự dối ḿnh, hoặc trốn tránh thách nhiệm của ḿnh.
Có một đảng mạnh có kỷ luật, có những cán bộ tiên phong, có một quá tŕnh thử thách nhiều thập niên, có 2.479.717 đảng viên là một điều tốt (thống kê Đại hội đảng kỳ IX)(Hiện tại ước tính trên 3 triệu đảng viên, và đang chuẩn bị cho đại hội đảng vào năm 2011). Những đảng viên ấy đă biến thành một số quan lại của một triều đ́nh vua chúa, đứng ngoài luật pháp, tham ô và lạm quyền, nhất nhất một chiều làm thui chột ư chí và ḷng phấn đấu vươn lên của mọi tầng lớp dân chúng. Cả nước chỉ có hơn ba triệu người có quyền dám nghĩ, nhưng nhưng chỉ một thiểu số nhỏ trên đây có quyền dám nói.
Trong hơn ba triệu người nầy, đa số v́ miếng đỉnh chung, v́ sự tiến thân và an ninh bản thân và gia đ́nh đă trở thành a dua, nương thời, nương lúc. Cho nên cuối cùng rồi, cũng không dám nghĩ, không cần nghĩ và nói xuôi chiều cho khỏe thân. Chỉ c̣n lại một thiểu số hiếm hoi, 1170 đại biểu, 160 ủy viên trung ương đảng và 15 ủy viên chính trị bộ, dầu có thông minh tuyệt đỉnh, dầu có trí tuệ tuyệt vời, th́ đương nhiên quốc gia phải èo ọt mà thôi.
Nh́n lại đất nước, với hơn 50% lực lượng lao động thuộc thành phần trẻ tuổi, chúng ta đă có một trợ lực lớn có khả năng đưa đất nước lên cao. Tuổi trẻ Việt Nam, sau một giai đoạn ngắn tiếp cận với phong cách hành xử và giao thương quốc tế đă hiểu thêm và hiểu cặn kẽ về tư do dân chủ. Từ đó tinh thần quốc gia dân tộc sẽ tăng trưởng nhanh chóng trong thành phần nầy.
Tuổi trẻ Việt Nam mong mỏi có một đời sống kinh tế-tinh thần-tâm linh tương xứng với các đóng góp của chính ḿnh. Những rào cản ngăn cách trong tôn giáo hay địa phương sẽ không c̣n là một chướng ngại để rồi cùng ngồi lại với nhau, không như các thế hệ cha ông trước kia. Những cảm xúc trong tư tưởng, vết hằn trong quá khứ sau cuộc qua phân của đất nước phải nhường bước cho lối nh́n tích cực về triển vọng tương lai của quê hương. Do đó, các mỹ từ “v́ thế hệ mai sau, vi chủ nghĩa anh hùng” không c̣n là một xúc tác tốt để hấp dẫn tuổi trẻ Việt Nam nữa.
Tuổi trẻ Việt Nam trân trọng 4000 năm văn hiến của tiền nhân, nhưng tuổi trẻ hôm nay không v́ niềm tự hào đó mà dừng chân lại để chiêm ngưỡng quá khứ. Tuổi trẻ Việt Nam đang lên đường. Đừng cho đó là một cản ngại lớn cho sự bền vững của chế độ mà nên cùng nhau thay đổi đường lối và chính sách thích hợp với xu hướng toàn cầu. Để rồi cùng nhau tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường làm việc thích ứng với tính năng động và hiếu học của tuổi trẻ. Có như thế, cơ hội phát triển và triển vọng tương lai sẽ giao thoa cùng đời sống kinh tế-tinh thần và từ đó, tuổi trẻ sẽ mạnh bước tiến lên. Cũng xin đừng rập khuôn tin tưởng vào văn hóa “coca cola” của Hoa Kỳ để mong được phát triển nhanh và đổi lấy một xă hội bất ổn về tinh thần.
Thay lời kết
Các chuyển hướng phát triển và thành quả của Chí Lợi qua việc giải quyết các vấn nạn môi trường trong những năm gần đây thật đáng cho chúng ta suy gẫm. Từ các biện pháp bảo vệ nguồn không khí, nước, rừng, đất, và nhất là việc quản lư phế thải kỹ nghệ. Tất cả đều đi theo đúng tiến tŕnh phát triển phải có và đang được áp dụng cho những quốc gia hậu kỹ nghệ. Độc đáo nhất là bài học dân chủ của Chí Lợi: Để cho nhân dân trực tiếp tham gia và góp tiếng nói vào công cuộc phát triển quốc gia.
Chí Lợi đă nhận thức được thế mạnh của người dân và đủ can đảm mở rộng cửa để cho người dân có điều kiện tiếp tay với lănh đạo trong công cuộc phát triển quốc gia. Thêm nữa, Chí Lợi đă xây dựng được một hệ thống tư pháp độc lập, do đó ṭa án có toàn quyền và có uy tín để đứng ra điều giải những mâu thuẫn hay bất đồng giữa chính phủ và người dân. Lănh đạo Chí Lợi vô h́nh chung đă đứng về phía dân chúng. Làm được như thế, Chí Lợi sẽ có trên thuận Thiên, dưới thuận Nhân, và không sớm th́ muộn, Chí Lợi sẽ có những bước tiến nhảy vọt để rồi Ḥa ḿnh theo cung cách toàn cầu hóa của thế giới.
Việt Nam cần có những gương soi như Chí Lợi. Lănh đạo Việt Nam cần có đủ đảm lược để tiếp nhận ư kiến đóng góp của người dân trong việc quản lư đất nước nhất là phải biết chấp nhận lỗi lầm để dứt khoát có những thay đổi thích hợp và đúng lúc, hợp với ḷng người, hợp với bối cảnh, và hợp với thiên nhiên.
Mai Thanh Truyết
----------------------------------------------------------
Từ bỏ đảng Cộng Sản
Tuesday, July 06, 2010
Ngô Nhân Dụng
Nhà báo Bùi Tín mới phổ biến hai bản tin về việc 200 đảng viên Cộng Sản Pháp đă công khai từ bỏ đảng, trong đó có 3 dân biểu Quốc Hội mới viết chung một bài trên nhật báo Thế Giới (Le Monde) giải thích hành động của họ.
Đây là những quyết định đáng ca ngợi. Các đảng viên cộng sản từ bỏ đảng là một hành động khó khăn, không giống như khi một người ở Mỹ đổi từ đảng Dân Chủ sang Cộng Ḥa, hoặc ngược lại. V́ những đảng chính trị ở Mỹ thường chỉ khác nhau về các chính sách trị quốc, ai thích chính sách nào th́ hoạt động trong đảng đó; đến khi không đồng ư với các chính sách của đảng th́ thay đổi. Chẳng khác ǵ có người đang ủng hộ đội banh Tây Ban Nha nay đổi sang ủng hộ đội Đức vậy.
C̣n một người vào đảng Cộng Sản th́ giống như gia nhập một giáo hội. Họ tôn thờ những giáo điều của các ông thánh Mác, Lê Nin, coi đó là những chân lư, là những giá trị tuyệt đối để theo đuổi trong đời. Cho nên, những đảng viên cộng sản bỏ đảng là họ rất can đảm, dám thú nhận rằng trong quá khứ họ đă chọn nhầm, đă sai lầm trên những điều căn bản. Trong số những người Pháp mới bỏ đảng có những vị đă đắc cử thị trưởng, nghị viên, dân biểu, vân vân, khi họ là đảng viên cộng sản. Nghĩa là họ đă đạt được những địa vị xă hội nhờ nhăn hiệu cộng sản, mà nay họ sẵn sàng từ bỏ. Như vậy th́ việc bỏ đảng của họ c̣n đáng khen hơn những đảng viên thường. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam bây giờ mà dám từ bỏ đảng c̣n đáng khâm phục hơn những người Pháp này. V́ ở Việt Nam mà bỏ đảng th́ không những biết trước sẽ mất nhiều quyền lợi dành cho các đảng viên, mà c̣n phải chấp nhận có thể sẽ bị đàn áp, trù dập suốt đời. Nếu chế độ đó kéo dài th́ đến đời con, đời cháu có thể c̣n chưa thoát bị trù.
Ngày 9 tháng 6 vừa rồi, ba dân biểu cộng sản đại diện các khu lao động trong vùng thủ đô Paris viết chung một bài dài 767 chữ trên báo Le Monde, Le sens de notre départ du Parti communiste - Ư nghĩa việc chúng tôi rời khỏi Đảng Cộng Sản. Một nguyên nhân chính mà họ nêu lên là trong nhiều năm qua họ cùng nhiều người khác đă tranh đấu để thay đổi đảng Cộng Sản, nhưng bao nhiêu lời hứa hẹn thay đổi đă bị tŕ hoăn. Một nguyên nhân khiến người ta muốn thay đổi là không c̣n muốn ôm lấy những giáo điều cũ rích trong khi thế giới đă đổi thay - một thế giới chính trị đă chết, Đảng Cộng Sản (Pháp) là một thành phần thừa hưởng di sản đó, một thế giới mới mà chúng tôi mong muốn đang chuẩn bị ra đời (Simplement, un monde politique meurt, don't le PCF est l'un des héritiers, un autre tarde à naitre...).
Nhưng thế giới chính trị đă chết đó là thế giới nào?
Mới nghe người ta có thể tưởng đó là thế giới cộng sản do Liên Bang Xô Viết lănh đạo. Nhưng không chỉ giản dị như vậy. Sự sụp đổ của Nga Xô và các nước cộng sản chư hầu chỉ là hiện tượng b́nh thường trong lịch sử. Khi một hệ thống kinh tế chính trị đă tận dụng các ưu điểm của nó, tự nó sẽ sinh bệnh khô cứng rồi chết; khi một đế quốc lan ra rộng quá, trung tâm không c̣n đủ sức kiểm soát các địa phương, đế quốc tan ră. Một thế giới chính trị quan trọng hơn đă chết, là thế giới trong đó một số người sử dụng quyền bính áp đặt ư kiến của ḿnh trên tất cả mọi người khác để hưởng thụ, trong khi vẫn tự coi ḿnh đang theo đuổi một lư tưởng, nhân danh lợi ích của đám đông. Họ có thể hành động tàn bạo, lừa lọc, gian trá, trong lúc thực hiện “lư tưởng” của họ, v́ họ tin rằng họ đă làm chủ được chân lư - để thực hiện chân lư, như một tôn giáo, người ta không từ nan một việc ác nào. Khai tử thế giới đó, chấm dứt ảo vọng đó, dù mới chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản Âu Châu thôi, đă là một điều rất đáng mừng cho cả nhân loại.
Những người đầu tiên theo chủ nghĩa cộng sản v́ lư tưởng muốn chấm dứt, thay đổi cảnh bất công trong nền kinh tế tư bản. Nhưng lư thuyết kinh tế của Karl Marx dù phân tích rất xuất sắc nhưng chỉ đưa ra những viễn tượng thiếu thực tế, cho nên Lenin đă t́m cách thực hiện qua guồng máy nhà nước. Stalin đă hoàn thiện hệ thống chuyên chế quản lư xă hội này, kiểm soát cuộc sống của tất cả mọi người bằng một guồng máy tập trung. Các người làm cách mạng trong những nước nghèo nh́n vào hệ thống tổ chức đó rất cảm phục v́ cảm thấy nó giản dị, hữu hiệu, và dễ bắt chước. Họ tưởng rằng muốn cho các nước nghèo tiến lên với tốc độ nhanh th́ nên bắt chước Liên Xô!
Đó là bắt đầu sai lầm những mối sai lầm.
Sai lầm đầu tiên là một đảng cách mạng dù theo mục tiêu dân chủ nhưng hoạt động trong bí mật sẽ dần dần đưa tới chế độ “quả đầu” ngay trong đảng của họ. Một lớp cán bộ chỉ huy năng động nhất sẽ chiếm độc quyền lănh đạo và chỉ c̣n nghĩ tới địa vị của ḿnh, bỏ qua lư tưởng ban đầu mà các đảng viên vẫn theo đuổi. Điều này đă được nhà xă hội học Robert Michels (1876-1936), một học tṛ giỏi của Max Weber nêu lên từ năm 1911. Các đảng cộng sản trên thế giới đều đi vào con đường như Lenin và Stalin đă đi ở Nga, cuối cùng đều phản bội lư tưởng ban đầu, chỉ c̣n giữ một hệ thống thư lại độc quyền.
Một điều sai lầm quan trọng không kém là họ không nhớ rằng “quyền hành sinh nhũng lạm, quyền tuyệt đối sinh nhũng lạm tuyệt đối.” Lord Acton (1832-1902) được người đời nhớ nhất v́ nhận xét giản dị này, mà một người b́nh thường sử dụng lương tri cũng có thể thấy như vậy. Chỉ những người cuồng tín và tự cao tự đại mới nhắm mắt trước sự thật đơn sơ đó.
Những lănh tụ cộng sản ở các nước nghèo tưởng rằng họ có thể đưa dân tộc ḿnh vào con đường hiện đại hóa bằng guồng máy kinh tế, chính trị cộng sản Nga, họ phạm một nhầm lẫn khác. Sử dụng chính quyền để thúc đẩy kinh tế tiến lên, thay v́ khuyến khích thị trường phát triển, đă không tiến nhanh hơn mà ngược lại c̣n làm cho quá tŕnh hiện đại hóa chậm chạp hơn. V́ chính quyền không giúp cho xă hội tiến nhanh mà lại trói buộc, tŕ hoăn, khiến xă hội tiến chậm hơn. Cứ so sánh hai vùng Tây và Đông Âu Châu sau Đại Chiến Thứ Hai, thấy ngay. Các nước Đông Âu có những chính quyền mạnh, tập trung lănh đạo, chỉ huy, vẽ ra các kế hoạch; c̣n các nước Tây Âu th́ luôn luôn lộn xộn, chính phủ lên rồi lại đổ, những nước như Italy tưởng như không ai cai trị nổi. Nhưng sau cùng Tây Âu đă tới trước Đông Âu
trong cuộc chạy đua kinh tế, đồng thời xă hội của họ cởi mở, tự do, lành mạnh hơn.
Các chế độ cộng sản ở Nga và Đông Âu sụp đổ không phải v́ “những thế lực thù địch” nào chống phá mà v́ chính người dân, các nhà trí thức, rồi đến các đảng viên cộng sản của các nước đó nh́n thấy con đường họ đang theo bế tắc, v́ những sai lầm căn bản trên. Người dân sống nghèo hơn. Họ không có tự do. Đạo lư cũng suy đồi. Hạnh phúc không đạt được. Những người như Gorbachev, Yeltsin ở Nga, Zaruelski ở Ba Lan, Egon Krenz ở Đông Đức không yêu thích ǵ chế độ dân chủ; họ vẫn mong bảo vệ một chế độ đă nuôi nấng họ, tạo nên địa vị, của cải cho họ. Nhưng họ phải lùi bước, v́ những sai lầm tích lũy đă đưa đảng cộng sản đến bước đường cùng. Họ đă “từ bỏ đảng cộng sản” bằng cách lẳng lặng để cho nó tan ră, vô t́nh giúp bao nhiêu đảng viên khác tự động từ bỏ đảng.
Cuối cùng th́ tất cả các đảng viên cộng sản sẽ từ bỏ đảng, bằng cách này hay cách khác. Lịch sử sẽ ghi nhận cộng sản là một cuộc thí nghiệm thất bại của loài người. Kinh tế tư bản có vẻ sống lâu hơn. Tư bản không phải là một chủ nghĩa, mà chỉ là một cách tổ chức kinh tế dựa trên thị trường, trên hoạt động và sáng kiến của các công dân tự do. Hệ thống tư bản không theo một giáo điều cho nên cứ thế thay đổi, thích ứng; chưa biết nó sẽ kéo dài được bao lâu. Loài người sẽ tiếp tục thí nghiệm những phương pháp tổ chức xă hội khác. Một điều chắc sẽ khó thay đổi, là niềm tin vào tự do dân chủ của con người mỗi ngày mạnh hơn. Chỉ trong cuộc sống tự do dân chủ xă hội loài người mới tiến bộ được. Cho nên, nếu các đảng viên Cộng Sản Việt Nam biết từ bỏ đảng sớm, như 200 đảng viên Cộng Sản Pháp vừa mới làm, th́ đó sẽ là phúc lớn cho dân tộc.
Ngô Nhân Dụng
----------------------------------------------------------
Vai tṛ tiền đồn
Nguyễn Đạt Thịnh
Cán bộ cấp lớn của Việt Cộng vừa chia nhau đi khắp thế giới để thuyết phục mọi quốc gia ủng hộ họ trong vai tṛ tiền đồn chống bá quyền Trung Cộng. Họ đă thành công rất lớn, nếu thành công được đánh giá bằng số quốc gia ủng hộ, hoặc hứa ủng hộ họ.
Đại tướng bộ trưởng quốc pḥng Việt Cộng Phùng Quang Thanh sang Mỹ, sang Pháp, thượng tướng thứ trưởng quốc pḥng Việt Cộng Nguyễn Huy Hiệu sang Nam Hàn, Nguyễn Tấn Dũng sang Nga, sang Úc, Nguyễn Minh Triết đi Ư, Spain, và Slovakia, Nông Đức Mạnh đi Miên, tất cả những chuyến đi này đều có một mục đích duy nhất: gây dựng thế liên minh với càng nhiều quốc gia càng tốt.
Sau cuộc viếng thăm Hoa Kỳ, tướng Thanh tuyên bố với truyền thông quốc nội là chính sách ngoại giao quốc pḥng Việt Nam vẫn là độc lập, tự lập, đa diện, do đó tạo ra được việc b́nh thường hoá tương quan giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và đẩy mạnh liên hệ kinh tế song phương.
Câu tuyên bố rôm rả này của tướng Thanh phải được hiểu là ông đă thành công, đă xin được viện trợ quân sự. Nhưng ông Thanh không ư thức được là Việt Nam cần nhiều hơn là những chiến cụ viện trợ.
Ai cũng biết trận chiến Biển Đông, nếu xẩy ra, sẽ không giải quyết được bằng vài chiếc chiến hạm của Mỹ, hoặc 6 chiếc tầu ngầm của Nga; đoàn tầu ngầm này dù có đánh ch́m được hàng chục chiến hạm Trung Cộng th́ tổn thất đó vẫn không đủ ngă ngũ để giải quyết tranh chấp biển đông.
Trong lúc cái giá mà Việt Nam phải trả sẽ là một loạt oanh tạc bằng phóng pháo cơ, và pháo kích bằng hỏa tiễn vào các thành phố lớn. Tổn thất sẽ lên đến mức khiếp đảm cả về kiến trúc lẫn nhân mạng.
Do đó thượng sách trên Biển Đông không phải là giao tranh, mà là một thế chiến lược deterrence, thế gián chỉ, chiến lược làm nản ḷng, thuyết phục Trung Cộng không nuốt cục gân gà Hoàng Sa. Chữ “gián chỉ” đă được dùng trong chiến tranh lạnh về vũ khí nguyên tử giữa Mỹ và Nga; không bên nào dám dùng vơ khí nguyên tử để tấn công bên kia, v́ họ hiểu là thế dàn trận của cả đôi bên là không tồn trữ vơ khí nguyên tử trong một vài chỗ để có thể bị tiêu diệt trong một vài trận oanh tạc. Hoả tiễn nguyên tử c̣n được đặt trên các chiến hạm để duy tŕ khả năng tấn công trả đũa khi bị tấn công.
Bí quyết duy nhất giúp Việt Nam tạo ra được thế chiến lược gián chỉ là đồng minh với Hoa Kỳ hoặc với Nga; nếu Việt Cộng kư được với một trong hai đại cường này một hiệp ước hổ tương pḥng thủ, loại hiệp ước giúp Đài Loan đứng vững từ 60 năm nay, th́ Việt Nam mới có hy vọng đương đầu được với Trung Cộng.
Tướng Thanh không t́m được một hứa hẹn nào mang tầm cỡ một hiệp ước hổ tương pḥng thủ trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, hoặc ông không chủ tâm mưu t́m một cam kết như vậy. Hai chữ “tự lập” viết trong câu tuyên bố của ông Thanh, tôi dịch từ chữ “self-reliance” trong bản tin Anh ngữ, (v́ không t́m được nguyên văn câu tiếng Việt ông nói); hai chữ này c̣n có thể hiểu là “tự lo liệu”, v́ không có đồng minh.
Tại Pháp cũng vậy, ông Thanh không xin được một cam kết can thiệp nào cả. Trong giả thuyết Trung Cộng có tấn công Việt Nam th́ chắc chắn Pháp sẽ phản đối, có thể nặng lời lên án Trung Cộng nữa; nhưng đồng minh th́ không.
Cùng thời gian với chuyến đi của tướng Thanh, Nguyễn Tấn Dũng cũng đi thăm Nga và hai bên ký hợp đồng lớn cung cấp tàu ngầm, chiến đấu cơ và trang thiết bị quốc phòng cho Việt Nam; nhưng cũng vẫn chỉ là việc trợ chiến cụ.
Cộng chung tất cả những thành quả đạt được trong ngần đó chuyến đi mưu t́m liên minh vẫn không đủ để Việt Cộng chịu đựng được những tổn thất của chiến tranh Biển Đông.
Họ thừa khả năng bắn ch́m chiếc tầu kiểm ngư của Trung Cộng, chiếc tầu đă hung hăng hiếp đáp ngư dân Việt Nam; nhưng chiếc tầu đầu tiên của Trung Cộng bị bắn ch́m phút trước, th́ phút sau chiến tranh Việt Hoa sẽ tự động diễn tiến, có thể không cần một lời tuyên chiến. Hà Nội, Sài G̣n, Đà Nẵng, Hải Pḥng sẽ là mục tiêu oanh tạc của phóng pháo cơ, và hỏa tiễn tầm xa của Trung Cộng.
Việt Cộng có thành tích tiêu thổ kháng chiến, thành tích chịu bom Mỹ, nhưng sau 35 năm hoà b́nh, và sau nhiều công khó xây dựng thành phố, người Việt Nam có c̣n chịu đựng được những trận mưa bom, mưa hỏa tiễn nữa không?
Chiến tranh trở thành quá đắt giá, mà không chọn chiến tranh là chọn ḥa b́nh, chọn con đường mất biển, mất đảo, sự lựa chọn không người Việt Nam nào đồng ư cả.
Con đường lư tưởng là đem được một trong hai siêu cương, hoặc Nga, hoặc Hoa Kỳ, vào Biển Đông; không có một trong hai siêu cường này, không có đối trọng với lực lượng quân sự của Trung Cộng.
Ngày xưa v́ tự do của chính người dân Việt Nam mà Nam Việt chấp nhận vai tṛ “tiền đồn” ngăn chặn cộng sản cho thế giới tự do; hôm nay Việt Cộng đừng biến Việt Nam thành tiền đồn ngăn chặn Trung Cộng bảo vệ hải lộ cho cả thế giới sử dụng.
Yếu tố mà “tiền đồn” Việt Cộng hôm nay không có, là sự đồng minh của Hoa Kỳ, dù thành tích tháo chạy 38 năm trước có làm Hoa Kỳ mất uy tín, nhưng họ vẫn là thế giá duy nhất có thể đặt lên bàn cân tương quan lực lượng để tạo thế thăng bằng trên Biển Đông.
Thiếu Nga hoặc thiếu Hoa Kỳ Việt Nam sẽ chỉ c̣n có 2 lựa chọn: một là chịu thua, nhượng Biển Đông cho Trung Cộng, hai là tử chiến để chứng kiến công tŕnh xây dựng mấy chục năm tan tành trong những cuộc oanh tạc và pháo kích.
Nguyễn Đạt Thịnh
BẢN TRƯỜNG CA THỨ BẢY
(Gởi người anh em bên kia giới tuyến)
Gió thu lạnh, từng lá vàng run rẩy
Cây trơ cành buồn bă hứng trời sương
Tôi viết tiếp bản trường ca thứ bảy
Chút ḷng người vong quốc gởi quê hương !
Một quê hương bên kia bờ đại hải
Nửa địa cầu vời vợi cánh chim bay
Quê tôi đấy, dân đau thương quằn quại
Tôi xa quê, ḷng nhớ qúa, đêm ngày!
Xưa, đẹp lắm, từng bờ sông, ngọn núi
Giặc tràn về tất cả trắng màu tang
Hăm mấy năm tôi chờ cơn gió nổi
Tôi đợi Kinh Kha phất ngọn cờ vàng!
Anh hỏi chúng tôi sao yêu đất nước
Lại âm thầm rời bỏ để ra đi
Và chị hỏi v́ sao yêu tổ quốc
Cần bàn tay xây dựng lại không về ???
Tôi thẳng thắn trả lời anh và chị
Giận cũng đành. Tôi nói thật ḷng tôi
Nếu c̣n đó, một độc tài đảng trị
Tôi có về, về tranh đấu mà thôi !
Quê hương đấy nhưng tôi không ở được
Cũng không về đóng góp bởi v́ saỏ
Bởi Bác Đảng qúa tham tàn, bạo ngược
Hút máu dân đen, xiết họng đồng bào !
Hai chúng ta ở hai bờ giới tuyến
Hai con đường, lư tưởng nghịch chiều nhau
Tôi yêu tự do, công b́nh, chính thiện
Chế độ do dân lựa chọn, dân bầu
Đường anh chị rắc gieo mầm oan nghiệt
Nào giáo điều, nào lừa mị, gian tham
Nào khủng bố, nào tù lao, tiêu diệt
Nên căm hờn đầy dẫy Bắc Trung Nam !
Tôi nói thế nếu anh không vui lắm
Th́ xin nh́n đất nước một lần xem
Có phải dân lành đói ăn, rách mặc
Chẳng tự do, không một chút nhân quyền ?
Ḍng Bến Hải, Đảng chia đôi vĩ tuyến
Rồi Đảng xua quân xâm lược miền Nam
Có phải Đảng ném thương binh xuống biển
Đoạn tôn danh người ..."mất tích"...vinh quang ?
Có phải Đảng đă trả thù ác độc
Dân miền Nam sau khi cướp miền Nam
Nhăn "Cải tạo", mác "khoan hồng, học tập"
Thực chất giết người quỷ quyệt, dă man ?
Có phải Đảng chặt cây rừng, trộm gỗ
Để lụt hàng năm nước nổi, dân ch́m ?
Cứu trợ gởi về, tiền kia Đảng giữ
Hiện vật nhập khọ Dân đói, đứng nh́n ?
Có phải đất dân Đảng thu, Đảng lấy
Dân biểu t́nh đ̣i, Đảng trả lại chưa ?
Có phải khắp nơi ḷng dân chán ngấy
Những oán hờn cao chất ngất đơn thưa ?
Có phải Đảng bán dân làm nô lệ
Hết hạn rồi chẳng nhận họ về không?
Nước người trả. Đảng làm ngơ, mặc kệ
Chỉ dân đen là thân phận khốn cùng!
Có phải trẻ thơ bao em thất học
Đêm vỉa hè, ngày bới rác t́m cơm
Trường lớp thiếu nhưng hotel vẫn mọc
Dân không nhà nhưng Đảng lắm sân golf ?
Có phải Đảng bôi đen ḍng lịch sử
Dạy trẻ thơ thù hận, dối gian không?
Trăm năm trồng người, người thành công cụ
Luồn cúi Nga Tàu, khinh rẻ tổ tông
Có phải thiếu niên đốt đời xuân trẻ
Để tương lai không là thoáng phân vân ?
Em gái mười hai môi tô, mắt vẽ
Ai thắp đèn hồng mời mọc thiêu thân ?
Có phải Đảng, đỉnh cao ngồi chễm chệ
Trên ngai vàng, ḷng chẳng xót thương dân
Kiểu bạo chúa, reo cười trên máu lệ
Trên bạc vàng, trên quyền lực, phi nhân ?
Đảng và dân rơ ràng hai giai cấp
Đảng sang giàu, dân nghèo đói,đau thương
Đảng thống trị và người dân bị trị
Đảng tàn hung, dân khốn cực trăm đường !
Lệ đă thấm. Mầm xanh từ ḷng đất
Đă nẩy chồi, đang lớn giữa quê hương
Dân Việt Nam với tinh thần bất khuất
Sẽ vùng lên mà rửa mối căm hờn
Anh thừa biết những lời tôi nói: ĐÚNG
Nên lo buồn mà chẳng dám nghe thôi
Đừng sợ nữạ Hăy nh́n vào sự thật
Để thương thân và thương đến giống ṇi
Thế giới ngoài kia từng ngày biến chuyển
Những Bắc Hàn, Đông Đức, những Nam Tư
Khối Cộng Sản đang đi vào cơi chết
V́ ḷng người bừng tỉnh giấc hoang mơ...
Th́ hỡi chị, hỡi anh và hỡi bạn
Cùng chúng tôi, ta bước lại từ đầu
Hăy thành thật cho t́nh không đơn bạc
Muốn vườn tươi, phải diệt những loài sâu!
Muốn đất nước kịp người trong hội mới
Muốn ta không mai một chính đời ta
Muốn dân tộc tương lai không mù tối
Muốn ấm no hạnh phúc tới muôn nhà
Th́ ta phải đập tan đời áp bức
Phá gông xiềng đ̣i dân chủ, tự do
Một thể chế chính quyền dân tạo dựng
Phải không anh? dân Việt vẫn mong chờ ???
Tôi đang nói với anh lời chí thiết'
Bằng con tim, bằng chân thật, t́nh người
Anh chẳng muốn nghe như tôi vẫn biết
Trong ḷng anh, nguồn thác đă ngầm khơi...
Ḍng thác đó lớn dần, lan rộng măi
Trong trái tim người tiến bộ các anh
Thành những ḍng sông hướng về đại hải
Cùng với muôn ḷng, đốt lửa đấu tranh!
Ngày anh về, quê hương vui biết mấy
Cả ba miền vàng rực bóng cờ xưa
Anh đọc lại bản trường ca thứ bảy
Nh́n anh, tôi cười. Mắt biếc. Xinh chưa ???
Ngô Minh Hằng
Cách mạng là gốc, chính trị là ngọn
Tạ Dzu
Người cộng sản thường sử dụng từ kép cách mạng vào công cuộc cướp chính quyền của họ. Lật đổ chế độ cũ, có thể là thối nát, để thay bằng chủ nghĩa xă hội tiến đến vô sản hoá hoàn cầu, mong tạo lập thiên đường cộng sản đại đồng thế giới là ước mơ của những người Mác-xít.
Xă hội loài người từ ngàn xưa đă diễn tiến theo biện chứng có khoa-học-tính để phát triển và tiến hoá hướng thượng luôn măi.
Phải chăng những người Mác-xít đă làm cách mạng thực sự, đáp ứng đúng nguyện vọng quần chúng?
Nghe hai chữ cách mạng, người ta liên tưởng ngay đến một sự đổi thay, từ cũ ra mới, từ xấu xa đến tốt đẹp, từ lạc hậu sang văn minh. Nói cách khác, “cách mạng là một công cuộc xoay chuyển thời đại, tu chỉnh và cải tiến xă hội cũ sang xă hội mới hy vọng, hợp lư, tiến bộ hơn, phù hợp với nguyên tắc tiến hoá, [viễn kiến] một tương lai của lư tưởng [đă được] hàm dưỡng tự sâu xa. Mỗi công cuộc cách mạng sản sinh ra một xuất lộ cho dân tộc, quốc gia và xă hội” (1)
Nh́n vào định nghĩa trên, điều được gọi là cách mạng vô sản vừa qua của quốc tế cộng sản đă hoàn toàn thất bại và bị phá sản toàn diện, cả h́nh thức lẫn nội dung. Thay v́ gọi đó là cuộc cách mạng, nhân loại phải phê đậm ba chữ phản cách mạng v́ nó đă không đưa đến xă hội mới tốt đẹp hơn xă hội cũ, không đưa đến tiến bộ và cũng không phù hợp với quy luật tiến hoá của loài người. Một biện chứng què quặt!
Về chính trị, phải chăng nhân loại tranh đấu từ ngàn xưa đến nay để không cần chính phủ khiến đất nước dễ rơi vào rối loạn, chẳng ai buồn lo v́ t́nh trạng cha chung không ai khóc? Thế tại sao các đảng cs đều cố gắng cướp cho được chính quyền khắp nơi, không từ một thủ đoạn chính trị đê tiện nào? Một khi đă nắm được quyền lực lại không bao giờ nhả, không chấp nhận chia sẻ công việc thiết kế xă hội với toàn dân.
Về kinh tế, làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu có hợp với ư tưởng loài người? Trước hết, vô sản mong muốn triệt tiêu ư thức hữu sản nơi con người. Đây là một trong những sai lầm cơ bản. Cứ nh́n sự phát triển tự nhiên của trẻ em sẽ thấy. Từ nhỏ chúng đă có ư thức hữu sản, muốn dành giật đồ chơi của những đứa khác về chúng, cho ḿnh chúng. Dục vọng tham lam quá độ của con người là một vấn đề khác. Tư duy làm theo khả năng sẽ cản trở sự tiến bộ của loài người v́ cảnh cha chung nói trên. Công ḿnh nhiều mà hưởng ít, hoặc tệ hơn, nhọc công cho kẻ khác hưởng th́ tội ǵ phải làm cho lắm (tắm cũng ở truồng)? Rồi ai sẽ điều hợp sinh hoạt kinh tế? Những sản phẩm nào cần sản xuất, phải sản xuất ngay, hay sản xuất nhiều nhằm cung ứng cho nhu cầu? Chỉ nêu vài câu hỏi sơ đẳng đă thấy chủ nghĩa cs bí lối. Hưởng theo nhu cầu ư? Với t́nh trạng vô chính phủ, vô tôn giáo, ai ngăn chặn ḷng tham không đáy?
Về sự tiến hoá của nền văn minh nhân loại: Thế giới đại đồng không cần nhân dân và biên giới quốc gia? Mác đă chẳng hiểu ǵ về nguyên tắc giúp thành lập dân tộc và nhân loại sinh hoạt hoà hợp với nhau nằm trong cơ năng, bản vị học thuyết (2). Với thuyết này, mỗi dân tộc là một cơ năng thành phần tạo nên bản vị nhân loại. Nơi đây, vườn hoa văn hoá muôn màu muôn sắc của xă hội loài người được thành lập bởi sự đóng góp chung từng nền văn hoá mỗi dân tộc. Nhờ vậy, cơ năng dân tộc và bản vị nhân loại sinh hoạt ḥa hài, hỗ trợ lẫn nhau. V́ tư duy sai lầm nên Mác kêu gào xóa bỏ biên cương, cả biên giới thể chất lẫn biên giới văn hoá tinh thần, nhập chung thành một loại văn hoá hỗn tạp vô sản?
Chỉ trong tư duy nhân loại là một mà dân tộc th́ nhiều, với cơ năng - bản vị học thuyết nói trên mới mong tránh khỏi sự tàn sát ghê rợn của cả chủ nghĩa cộng sản quốc tế lẫn chủ nghĩa tập quyền vụ lợi tư bản.
Trong quá tŕnh cách mạng, những nguyên nhân nội tại tiềm ẩn từ lâu, gây bế tắc trong xă hội buộc con người phải đứng lên đạp đổ sự thối nát hầu tạo lập xă hội mới. Cuộc cách mạng 1789 há chẳng là kết tinh từ những yếu tố nội tại thoát thai tận thế kỷ XVI, từ Diderot, Voltaire, Montesquieu, Rousseau khởi đi? Khi đă đến giai đoạn thành thục chín mùi, kết hợp hai yếu tố chủ quan bên trong và khách quan bên ngoài, buộc phải bùng vỡ cách mạng, tháo nút bế tắc cho xă hội tiến hoá.
Một cuộc cách mạng thường bao gồm hai thành tố: phá đổ và kiến thiết.
Sự phá đổ phải có giới hạn để kịp tiến đến giai đoạn kiến thiết, nhanh chóng đưa đất nước từ xấu sang tốt. Đây chính là sai lầm của chế độ cộng sản. Họ đạp đổ xă hội thối nát cũ nhưng luôn luôn đi quá đà, gây ra biết bao đau thương và tang tóc. Đă chậm bước v́ mải mê hận thù giật sập truyền thống cũ, khi sang đến giai đoạn kiến thiết họ lại càng mù tịt. Những nguyên tắc của cộng sản như đấu tranh giai cấp, dân chủ tập trung, độc tài đảng trị, kinh tế chỉ huy, văn hoá đại đồng xoá bỏ biên cương dựa trên bạo lực… hoàn toàn không phù hợp với xă hội loài người, không đáp ứng được nhu cầu đất nước và thời đại nên đă thất bại thảm hại trong quá tŕnh xây dựng. Nó không hợp với quy luật tiến hoá hướng thượng của nhân loại nên đă bị nhân dân Liên Xô và Đông Âu dứt khoát dẹp bỏ.
Xă hội loài người tiến triển theo dạng thức đường xoáy trôn ốc lên cao (như Loa Thành An Dương Vương). V́ luôn có những lực cản, hay ác lực khiến xă hội không tiến hoá theo đường thẳng, mà biểu thị bằng đường cong, nhưng nó hướng lên. Hướng thượng là ư chí chung của con người. Đường cong tiến hoá này không phải lúc nào cũng suông sẻ. Có những thời điểm các lực cản sự tiến bộ vượt trội, biến thành nút thắt trôn ốc nhỏ trên đường cong lớn ấy. Đó là lúc cần thiết một cuộc cách mạng nhằm phá vỡ nút xoáy bế tắc kia để dân tộc/nhân loại tiếp tục phát triển luôn măi. Nhưng không hẳn cuộc cách mạng nào cũng có đổ máu. Sau khi cách mạng thành công, tiến đến giai đoạn chính trị tức sự thành lập nhà nước với hiến pháp, luật pháp, nghĩa vụ, quyền lợi và những định chế ràng buộc.
Lịch sử con người tiến hoá hướng thượng từ xa xưa, khởi đầu là thần quyền – đa thần hay độc thần – sang chế độ phong kiến, quân chủ, kinh qua giai đoạn thoái trào phát xít và cộng sản, bây giờ mới đạt tới xă hội dân chủ, mất đến cả mấy chục ngàn năm chứ không dễ dàng, thênh thang thẳng tuột một đường đâu! Đă tốn phí bao nhiêu máu và nước mắt để nhân loại tiến đến thời điểm hiện tại?
Khi nhận thức được như vậy th́ chính trị phải lấy cách mạng làm gốc. Những “thủ đoạn chính trị” phải dựa vào viễn kiến nhân đạo của cách mạng mà thi hành. Gốc cách mạng có vững chắc và tô bồi bằng t́nh tự yêu thương dân tộc, ngọn chính trị mới vươn toả cao rộng, thơm ngát hương hoa nhân ái phục vụ con dân.
Nhận định sai lầm của chủ nghĩa cộng sản: Cứu cánh của họ là thế giới vô sản đại đồng, xoá bỏ giai cấp và biên cương quốc gia với phương thức cướp chính quyền khắp nơi khiến họ không từ bỏ thủ đoạn bỉ ổi nào, miễn đạt được mục đích. Phương châm của cs là cứu cánh biện minh cho phương tiện nên những thủ đoạn chính trị bất nhân được áp dụng tùy tiện. Hăy xác định lại điểm này. Đáng lư ra, nó phải là cứu cánh nào, phương tiện nấy. Cứu cánh có nhân đạo, phương tiện, hay thủ đoạn chính trị mới nhân đạo được. Lâu nay, những người cs sử dụng bạo lực, dối trá và trấn áp quen tay buộc mọi người nh́n “thủ đoạn chính trị” theo nghĩa xấu. Phải hiểu đây là những phương thức hợp pháp mà mỗi con dân, mỗi tổ chức có quyền khai thác triệt để nhằm đạt mục tiêu chính trị cho ḿnh, hoặc cho tổ chức.
V́ cứu cánh là cướp lấy chính quyền nên họ bất chấp thủ đoạn, tiêu diệt đối lập bằng mọi cách; v́ cứu cánh là vô sản nên họ quốc hữu hoá nhà đất mà không đền bù thỏa đáng; v́ cứu cánh là vô thần nên tự do tôn giáo chỉ có trên giấy tờ; v́ cứu cánh là dân chủ tập trung nên đảng phái đối lập, báo chí tư nhân và xă hội dân sự không được phép sinh hoạt; v́ cứu cánh là kinh tế chỉ huy nên nhà nước nắm mọi phương tiện sản xuất và các ngành kinh doanh “mũi nhọn.”
Họ c̣n sai lầm trong định nghĩa giai cấp. Đúng ra, phải hiểu đây là các giai tầng trong xă hội nhằm phân công nhiệm vụ cho hợp lư. Giai tầng chính trị gia th́ lo thiết kế xă hội; giai tầng bác sĩ lo cứu chữa bệnh nhân; giai tầng công nhân th́ lo sản xuất hàng hoá; giai tầng nông dân sản xuất nông sản v.v…
Nếu giai tầng công nhân tiêu diệt và lănh đạo các giai tầng khác, xă hội sẽ phân chia nhiệm vụ ra sao? Bế tắc! Nếu không c̣n chính phủ, ai sẽ điều hợp quốc gia? Bế tắc! Nếu là kinh tế chỉ huy th́ ai nắm phương tiện sản xuất hoặc quyết định mặt hàng nào cần sản xuất ngay, hàng hoá nào cần có nhiều để đáp ứng sự “hưởng theo nhu cầu?” Bế tắc!
Tất cả mọi câu hỏi đều gặp bế tắc không giải quyết nổi, làm sao xă hội hướng thượng và tiến hoá?
Một nhận định sai lầm nữa của những người Mác-xít là họ tin tưởng và hănh diện cho rằng chủ thuyết cộng sản là nấc thang tiến hoá cuối cùng mà nhân loại đạt đến! Đây là kiểu tư duy chết và đă bị đóng khung. Bất kỳ một tư tưởng, một xă hội nào cho rằng ḿnh là đỉnh chót, duy nhất đúng, đều có khả năng đưa loài người đến “tận thế,” v́ nó không cho phép con người tiến hoá thêm nữa. Sự tiến hoá bị “đụng trần,” c̣n chỗ đâu cho “công bằng, dân chủ, văn minh?” Từ ngữ trong câu châm ngôn vừa rồi cũng bị đặt sai vị trí. Không có dân chủ, làm ǵ có công bằng và văn minh; tại sao “công bằng” lại đứng trước “dân chủ?”
Chủ nghĩa cs, do vậy, chỉ có giá trị biểu kiến, tức mong muốn xă hội công bằng hơn chế độ tư bản rừng rú thời Mác, chứ không có giá trị thực tiễn. Con người luôn mơ ước tiến hoá và hướng thượng, buộc họ chỉnh sửa chế độ tư bản cho hợp với ư chí hướng thượng của loài người.
Từ thực tế cuộc sống, muốn chỉnh sửa nền chính trị trên ngọn cho hợp đạo lư Việt, phải có dân chủ, phản biện và đối lập, lấy cách mạng dân tộc làm gốc. Chưa quốc gia nào thành công sửa đổi các chế độ vô sản cả. Nó không cho phép phản biện, không cho những tiếng nói khác biệt cất tiếng. Ta chỉ có thể thay thế nó mà không thể sửa chữa, ngoại trừ họ chấp nhận lột xác, chấp nhận cuộc chơi dân chủ phổ quát, không phải thứ dân chủ tập trung hiện tại.
Đảng CSVN phải nhận ra những điều trên mà dứt khoát từ bỏ tư duy lạc hậu này.
Họ biết rơ, nhưng vẫn cố bám víu làm b́nh phong nắm quyền lực, vẫn nhờ cậy vào “tư tưởng dỏm” HCM – người đă tuyên bố thẳng thừng chẳng có tư tưởng ǵ – để tiếp tục độc quyền hưởng lợi trên đầu trên cổ toàn dân.
Những đảng viên Mác-xít nào đă phản tỉnh và có tinh thần tiến bộ, nh́n ra những nhược điểm không thể giải quyết của chủ nghĩa xă hội hăy khẩn trương kết hợp hàng ngũ, t́m về với quốc dân để cùng thế hệ thanh niên và tầng lớp 98% đáy tầng nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc thời đại 2000 đang c̣n dang dở, ngăn cản bởi cuộc nội chiến khốc liệt huynh đệ tương tàn kia.
Người Việt Nam ở cả hai phía hăy mở rộng tầm nh́n, cố gắng hiểu rơ vấn đề, bám lấy gốc cách mạng chứ đừng theo ngọn chính trị hầu nhanh chóng hăng hái, hồ hởi t́m về bên nhau, sưởi ấm cho nhau trong cơn buốt giá của cuộc Chiến tranh Lạnh vừa qua, mà con dân và đất nước chúng ta đă bất hạnh gánh chịu hoàn cảnh chiến tranh nóng cho cả loài người được thụ hưởng hoà b́nh.
(1) Huyết Hoa, Thái dịch Lư Đông A, Nhóm nghiên cứu văn hoá dân tộc Việt, 1986, tr 4
(2) Sách đă dẫn, tr 200
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE
TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 7
anhsangmoi2015.com
anhsangmoi2015.org
Cơ quan ngôn luận của ĐẢNG CÁCH MẠNG B̀NH XĂ VIỆT
Chủ trương và Biên tập : Lư Nguyễn Thiên Quư ( Huyên Chương Quư )
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------