ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE 

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP  9

anhsangmoi2015.com

anhsangmoi2015.org 

----------------------------------------------------------------------------------------------

 

Mỹ đẩy Việt Nam đến việc hợp tác toàn diện…
 

© Lư Đại Nguyên

Mỹ đẩy Việt Nam đến việc hợp tác toàn diện… Trung Quốc ḱm Việt Nam ở trong thế song phương…

Đại diện toàn quyền của Hoakỳ tại Việtnam, Đại sứ Michael Michalak phát biểu tại cuộc họp báo ở Hànội ngày 29/06/2010, nhân kỷ niệm 15 năm b́nh thường hoá quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ. Rằng: “Hoakỳ cam kết tăng cường mối quan hệ hợp tác toàn diện với Việtnam” và đánh giá: “Chúng tôi tin tưởng rằng, duy tŕ quan hệ quân sự mạnh mẽ đóng góp vào hoà b́nh ổn định của khu vực”. Ông cho rằng: “Việtnam củng cố hợp tác quốc pḥng với Hoakỳ cho thấy một phần mong muốn hội nhập toàn cầu của Việtnam, nhất là việc gia tăng quan hệ quân sự với các nước láng giềng”. Ông Michalak khẳng định: “Chính quyền của tổng thống Obama không đứng về phe nào đối với các cuộc tuyên bố chủ quyền các đảo ở biển Đông. Nhưng rất quan ngại về vấn đề lưu thông hàng hải tự do, cũng như việc tự do tiến hành các hoạt động theo luật quốc tế ở khu vực biển này”. Ông nêu lên sự kiện là Trungquốc và Asean đă kư kết Tuyên bố Ừng xử trên biển Đông, ông mong muốn mọi tranh chấp ở vùng biển này phải được giải quyết bằng những biện pháp hoà b́nh.

Dịp này ông nhắc lại  “Từ năm 1995 đến nay thương mại giữa Hoakỳ và Việtnam đă tăng 3300%. Năm ngoái Mỹ là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở Việtnam, thương mại hai chiều đạt tới mức 15.4 tỉ đô la”. Về nhân quyền tại Việtnam, ông nói: “Washington đă cung cấp những khoản tài trợ trị giá 350 ngàn đô la cho các tổ chức phi chính phủ ở Việtnam, để tăng cường dân chủ, thăng tiến xă hội dân sự và chế độ cai trị theo pháp luật, thúc đẩy nhân quyền và nữ quyền”. Ông cho hay : “Hoakỳ và Việtnam vẫn c̣n khác biệt về nhân quyền, dù ḷng tin đă gia tăng”. “Chúng tôi đang t́m cách giải quyết bất đồng này thông qua đối thoại nhân quyền song phương và trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc, cũng như các cuộc trao đổi chính thức và không chính thức với chính phủ Việtnam diễn ra gần như hàng ngày”. “Chúng tôi cũng đă biết về  các bài báo và tin tức về các phần mềm khác nhau để chặn việc truy cập Internet, cũng như nhiều trang web bị chặn”. “Chúng tôi đang tiếp tục thu thập thêm thông tin về việc này”. “Duy tŕ tự do Internet là điều cần thiết để duy tŕ tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việtanm. Bản thân ngoại trưởng Hoakỳ  Hillary Clinton từng khẳng định rằng, việc bảo đảm tự do Internet là một mục tiêu quan trọng đối với chính quyền Hoakỳ hiện nay”. Đại sứ Michael Michalak xác nhận, ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton sẽ tới tham gia các chương tŕnh song phương cũng như dự Diễn Đàn An Ninh khu vực Asean ARF vào cuối tháng bảy này tại Hànội. Ngoài ra bộ trưởng Quốc Pḥng Mỹ Robert Gates cũng có ư định tham dự hội nghị Bộ Trưởng Quốc Pḥng Asean mở rộng vào cuối tháng 10/2010.

Theo kư giả Đức Tâm trên mạng RFI ngày 05/07/10, viết về phân tích của Gs Vũ Hồng Lâm- Alexandre Vuving, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Châu Á Thái B́nh Dương-Hawaii th́: “Sự hiện diện của ngoại trưởng Mỹ tại ARF đưa ra hai thông điệp. Thứ nhất là Mỹ coi trọng khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, Mỹ coi ARF là một diễn đàn đa phương quan trọng về an ninh khu vực châu Á Thái B́nh Dương”. Tóm lại lập trường của Mỹ đối với Việtnam là quyết liệt toàn diện ‘nhập nội’. Về biển Đông, tuy Mỹ tuyên bố đứng ngoài việc tranh chấp chủ quyền biển, đảo trong vùng, không chấp nhận dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp ở biển Đông. Nhưng rất quan ngại về t́nh h́nh căng thẳng trên biển giữa Việtnam và Trungquốc. Hoakỳ đă tuyên bố: “Rất quan ngại về yêu sách quá đáng trên biển Đông của Trungquốc, cũng như về những hoạt động gây nguy hiểm của Trungquốc trên biển Đông”. Để đối phó với t́nh trạng đó, theo Gs Vũ Hồng Lâm, bộ quốc pḥng Hoakỳ đă có một chiến lược bao gồm các hướng chính là: “1- Khẳng định sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng biển Đông, khẳng định vị thế của Mỹ là lực lượng quân sự mạnh nhất trong vùng”. “2- Tăng cường thực thi quyền đi lại tự do của hải quân Mỹ trong vùng”. “3- Tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các nước đối tác trong khu vực ở mọi cấp độ. Các nước đối tác bao gồm 2 đồng minh Philippines và Tháilan, các đối tác khác như Indonesia, Singapore, Việtnam và Malaysia”. “4- Tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh đa phương ví dụ như ARF”.

Phản ứng tức thời về cuộc họp báo của đại sứ Mỹ tại Hànội Michael Michalak, Trungcộng triệu tập ngay một cuộc hội nghị ‘song phưong’ cấp cao Việtnam-Trungquốc từ ngày 29/06 đến 03/07/10 tại Bắckinh, gọi là để thoả thuận sẽ cùng giải quyết vấn đề tranh chấp biển Đông một cách đúng mức.  Cuộc họp Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương Việtnam-Trungquốc lần thứ 4 này, dưới sự chủ tọa của của 2 trưởng đoàn Việtnam là Phạm Gia Khiêm, phó thủ tướng, kiêm bộ trưởng ngoại giao, và trưởng đoàn Trungquốc là Đới Bỉnh Quốc ủy viên Quốc Vụ. Phạm Gia Khiêm lên tiếng: “Việtnam mong muốn cùng Trungquốc giải quyết vấn đề biển Đông một cách đúng mức, dựa trên quan hệ chung giữa 2 nước và t́nh hữu nghị giữa 2 dân tộc”. Đới Bỉnh Quốc lên lớp: “Hai bên học hỏi lẫn nhau, tăng cường ḷng tin và sự hiểu biết để giải quyết vấn đề thương lượng hữu nghị”. Phạm Gia Khiêm cũng gặp Tập Cận B́nh phó chủ tịch Trungquốc , người sẽ lên kế vị Hồ Cẩm Đào, để nhận huấn thị.

Được biết, Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Song Phương Việt-Trung thành lập ngày 11/11/2006 tại Hànội. Ngày 16/11/06, ủy ban này cho ra đời một website, được nhấn nút kích hoạt Trang Thông Tin Điện Tử Hợp Tác Kinh Tế Thương Mại Việt-Trung, bởi  3 nhân vật chóp bu Trungcộng, Việtcộng là Hồ Cẩm Đào. Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết. Nhưng ngay sau đó, trang website đă đăng nhiều thông tin đứng trên lập trường Trungcộng công khai chống lại Việtnam.  Dư luận Việtnam lên tiếng phản đối quyết liệt, ngày 17/05/2009, nhà cầm quyền Hànội buộc phải chính thức đóng cửa tên miền tiếng Việt website này. Xem ra hợp tác song phương với Trungcộng phần thiệt luôn luôn nằm về phía Việtnam. Nhưng bọn lănh tụ Việtcộng vốn có quán tính làm tay sai ngoan ngoăn trung thành của Trungcộng, V́ tin tưởng vào sức bảo vệ của Trungcộng để cầm quyền tại Việtnam, Nhất là quá sợ Trungcộng, nên họ chỉ biết cúi đầu tuân theo mệnh lệnh của quan thầy, không dám trái ư. Chính v́ vậy mà Trungcộng quyết không chấp nhận giải pháp đối thoại đa phương với các nước trong vùng có liên hệ về biển Đông. Mà chỉ cần quan hệ song phương với Hànội. Nuốt xong biển Đông, nuốt xong Việtnam th́ các nước Asean khó ḷng cưỡng lại nổi với sức bành trướng của Trunghoa. Mất Đông Nam Á, Hoakỳ sẽ mất thế siêu cường duy nhất. Thế giới không c̣n đa cực như hiện nay, mà sẽ trở lại lưỡng cực như thời kỳ chiến tranh lạnh. Lúc đó quan hệ giữa Tầucộng và Hoakỳ là quan hệ tranh đấu sống chết. Theo cựu bộ trưởng quốc pḥng Trungcộng Tŕ Hạo Điền “Đó là định mệnh của lịch sử để cho nước Tàu và nước Mỹ sẽ đi tới sự đối đầu không thể tránh được trên con đường hẹp và đánh lẫn nhau”. “Quả là tàn nhẫn khi giết một trăm triệu người Mỹ. Nhưng đó là con đường duy nhất, mà sẽ bảo đảm chúng ta làm ra được thế kỷ của người Tàu, một thế kỷ trong đó đảng cộng sản Tàu lănh đạo thế giới”. Đây chỉ là sản phẩm hoang tưởng của thành phần theo chủ nghĩa Dân Tộc Đại Hán cực đoan, nhằm lên dây cót tinh thần đảng viên và lừa mị quân dân Trunghoa thôi. Hoakỳ vẫn c̣n dư sức, và đang ngăn chặn điều ác đó ở địa bàn Việtnam.

---------------------------------------------------------------------------------------------

 

Chiến tranh lạnh đang nóng hơn vài độ

 

Nguyễn Đạt Thịnh

 

Hải quân Đại Tá David Lausman, hạm trưởng hàng không mẫu hạm George Washington xác nhận chiến tranh lạnh Mỹ-Trung Cộng không c̣n lạnh nữa bằng câu tuyên bố, “Biển Đông không của riêng ai, mà là của mọi người; Trung Hoa có quyền sử dụng Biển Đông, cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới đều có quyền đó.”

Chỉ nói một câu dài 31 chữ, Lausman đột nhiên trở thành bạn tri kỷ của hàng vạn ngư dân Việt Nam, hàng chục triệu người Việt Nam khác không làm nghề biển.

Tờ Thanh Niên, xuất bản trong nước kín đáo reo mừng, “Sáng nay (10.8), tàu khu trục USS John S.McCain do Chuẩn đô đốc Ronald Horton - Chỉ huy trưởng Hậu cần Tây Thái B́nh Dương làm trưởng đoàn cập cảng Tiên Sa (Đà Nẵng). Trong thời gian từ 10 đến 14 tháng Tám các thành viên trên tàu sẽ tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham quan các danh thắng tại TP Đà Nẵng.

Hải quân Mỹ đă thực hiện nhiều chuyến thăm đến VN trong những năm gần đây, trong đó có  hai chuyến thăm cảng năm 2008. Năm 2009, lần đầu tiên một phái đoàn VN ra thăm tàu sân bay của Mỹ - tàu USS John C.Stennis (CVN 74). Cũng trong năm 2009, tàu đô đốc chỉ huy Hạm đội 7 Mỹ USS Blue Ridge (LCC 19) và tàu khu trục có trang bị hỏa tiễn USS Lassen (DDG 82) do hạm trưởng người Mỹ gốc Việt Lê Bá Hùng chỉ huy đă thăm cảng VN. Tàu bệnh viện USNS Mercy (T-AH 19) cũng đă thăm VN vào tháng 5.2010 trong khuôn khổ một chương tŕnh trợ giúp nhân đạo có quy mô lớn.”

Năm ngoái hạm trưởng Lê Bá Hùng, năm nay chiến hạm John S McCain ghé Đà Nẵng trong niềm hân hoan của nguời Việt Nam, quốc nội và hải ngoại.

Hăng thông tấn Mỹ A.P. viết, “Chiến hạm John McCain vào cảng Việt Nam để mừng 15 năm tái lập bang giao Việt-Mỹ, sau cuộc chiến tranh đẫm máu mà nhiều cựu chiến binh vẫn c̣n coi là một vết thương chưa khép miệng. Hai chính phủ Việt-Mỹ mặc dù vẫn đối nghịch về lư tưởng, nhưng đă có chung quan điểm về một vài vấn đề, trong đó có vấn đề Trung Cộng đ̣i hỏi chủ quyền trên Biển Đông.” 

Không chỉ tuyên bố hải lộ Biển Đông là của mọi người, đại tá Lausman c̣n cho chiếc tầu sân bay ông chỉ huy lượn quanh Hoàng Sa, quần đảo đang bị Trung Cộng cưỡng chiếm và công bố “chủ quyền không thể tranh căi” của họ.

Cuộc “lượn ṿng mà chơi” đó diễn ra ngày Chủ Nhật mùng 8 tháng Tám 2010, ngày nhiều chính khách, tướng lănh Việt Cộng ngồi trên bong tầu, làm khách danh dự chứng kiến các khu trục cơ Hoa Kỳ biểu diễn, cất cánh bay vào không phận “quốc tế” rồi đáp yên lành xuống sân bay nổi, trong lúc hạm đội Nam Hải tại đảo Hải Nàm không có một phản ứng nhỏ.

Cuộc khiêu khích của Hoa Kỳ trên Biển Đông mang tính chất mới nhất, tính đến ngày hôm nay (8/11), nhưng không phải là cuộc khiêu khíc duy nhất, cũng không phải là cuộc khiêu khích cuối cùng.

Phóng viên Margie Mason của hăng AP viết, là trước khi vào thủy đạo Biển Đông, hàng không mẫu hạm George Washington đă khiêu khích hoả tiễn “diệt hàng không mẫu hạm” Đông Phong 21D của Trung Cộng tại biển Nhật Bản, và sắp khiêu khích loại hỏa tiễn được chế tạo để diệt nó tại Hoàng Hải, vùng biển Trung Cộng gọi là biển độc quyền của họ.

Dĩ nhiên đại tá Lausman không tự ḿnh tạo sóng thần trên Biển Đông, ngoại trưởng Hillari Clinton đi trước ông, tạo sóng thần ngay giữa thành phố Hà Nội bằng câu tuyên bố bất hủ là Hoa Kỳ sẽ tạo môi trường thuận lợi để các nước Á Châu sống hoà b́nh và cộng tác với nhau trên Biển Đông.

Và cả Clinton lẫn Lausman đều không tự ư làm công việc họ đă làm, đang làm. Bác sĩ Diệu ở Houston bảo tôi là ông ta sẽ viết thư xin lỗi tổng thống Barack Obama, v́ từ lâu ông vẫn coi thường ông tổng thống da đen thuộc đảng dân chủ này.

“Obama phải thuộc đảng Cộng Hoà mới đúng,” bác sĩ Diệu nói; ư ông muốn tŕnh bầy là thái độ quyết liệt đối phó với Trung Cộng phải là thái độ của một tổng thống Cộng Hoà.

Tôi mời bác sĩ Diệu (người đầu tiên cho tôi biết tin “Mỹ vào Biển Đông”) và bạn đọc thảo luận về những thay đổi sẽ xẩy ra tại Việt Nam sau màn biểu diễn của hàng không mẫu hạm George Washington.

Tối thiểu Hoa Kỳ cũng chứng minh được quyền của ngư phủ Việt Nam tự do đánh bắt trên ngư trường Hoàng Sa sung măn, mà vợ họ không phải bán nhà chạy tiền đem đến ngân hàng Việt Cộng đóng vào ngân khoản của ṭa đại sứ Trung Cộng để chuộc chồng.

Câu hỏi đầu tiên để thảo luận là “liệu Trung Cộng có đủ lẻo lự để thuyết phục được các chính khách Việt Cộng đang tại vị, no nê, đầy túi, và toàn quyền sinh sát, tin vào sự thật “theo Mỹ là tự sát” không?

Đó quả là sự thật mà Việt Cộng trước sau cũng thấy rơ, và đó c̣n là vấn đề Việt Nam “cơi lốt” mà chúng ta cần t́m hiểu.

 

-------------------------------------------------------------------------------------

 

Hoa Kỳ và thái độ quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông

 

Trọng Nghĩa / Đức Tâm

 

 

Chuyên san Security Challenges (Thách thức an ninh) của hội Kokoda Foundation (Úc) số mùa đông 2010 có đăng bài của giáo sư Carlyle Thayer với tựa đề : « Hoa Kỳ và thái độ quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông ». Bài viết nêu bật thái độ ngang ngược của Trung Quốc, nâng vấn đề Biển Đông lên thành một khu vực « lợi ích cốt lơi » và có những hành động khiêu khích với danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, trái với chính sách mà Bắc Kinh tuyên bố là mong muốn thúc đẩy « ḥa b́nh, ổn định và phát triển » trong « một thế giới hài ḥa ».

 

Theo giáo sư Thayer, những động thái trên đây đă dẫn đến những căng thẳng trong quan hệ với Việt Nam và ảnh hưởng đến những lợi ích chiến lược và thương mại của Mỹ. Đáp lại, Hoa Kỳ khẳng định quyền tự do thông thương và phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

 

Bài viết của giáo sư Thayer gồm 5 phần. Trong phần đầu, tác giả cung cấp những thông tin cơ bản, làm cơ sở cho sự hiểu biết những phát triển gần đây. Phần hai nêu bật ư nghĩa chiến lược của căn cứ hải quân Du Lâm (Yulin) trên đảo Hải Nam. Phần ba của bài viết nhắc lại những hoạt động quấy nhiễu của Trung Quốc đối với các tàu của Mỹ ở ngoài khơi đảo Hải Nam.

 

Thái độ quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông và những ảnh hưởng của nó đối với các lợi ích thương mại và an ninh của Hoa Kỳ là nội dung chính của phần bốn bài viết và cuối cùng, tác giả nêu ra những trở ngại cho việc thúc đẩy quan hệ Mỹ-Trung và đưa ra một số gợi ư nhằm làm giảm căng thẳng trong khu vực Biển Đông. Trong tạp chí hôm nay, chúng tôi tập trung giới thiệu phần bốn và phần năm bài viết của giáo sư Thayer.

 

Các hành động "quyết đoán" của Trung Quốc tại Biển Đông

 

Trong phần bốn phân tích về thái độ quyết đoán hiện nay của Trung Quốc tại Biển Đông, giáo sư Thayer đă điểm lại các diễn biến xẩy ra từ năm 2007 đến nay đă khiến cho t́nh h́nh an ninh khu vực Biển Đông xấu đi và tạo ra va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam. Giáo sư Thayer tập trung vào ba sự kiện chính đều bắt nguồn từ các động thái của Trung Quốc.

 

Trước hết là việc Trung Quốc gây áp lực trên các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ, buộc họ từ bỏ các thỏa thuận khai thác với Việt Nam trong vùng Biển Đông; kế đến là việc Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh cá trên vùng Biển Đông đang tranh chấp; và sau cùng là sự kiện Trung Quốc phản đối các đề nghị mở rộng thềm lục địa của nước khác và tái khẳng định chủ quyền trên 80 phần trăm biển Biển Đông. Về diễn biến thứ nhất, Giáo sư Thayer viết :

 

“Vào năm 2007, Việt Nam thảo ra một kế hoạch dài hạn để hội nhập sự phát triển vùng duyên hải của ḿnh với các nguồn tài nguyên biển ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Các chuyên gia kinh tế Việt Nam ước tính rằng vào năm 2020, sự phát triển của nền kinh tế biển được hội nhập sẽ đóng góp đến 55 phần trăm cho GDP của Việt Nam và từ 55 đến 60 phần trăm hàng xuất khẩu.

 

Trung Quốc phản ứng bằng cách gây áp lực trong hậu trường trên các công ty dầu hỏa phương Tây có khả năng tham gia vào chiến lược phát triển biển của Việt Nam như ExxonMobil, hăm dọa trả đũa chống lại các lợi ích thương mại của các tập đoàn này ở Trung Quốc nếu họ tiến hành các liên doanh với Việt Nam.”

 

Về các lệnh cấm đánh cá do Trung Quốc đơn phương ban hành, giáo sư Thayer đă nêu bật thái độ hung hăn của Trung Quốc, đặc biệt đối với ngư dân Việt Nam tại vùng quần đảo Hoàng Sa :

 

“Năm 2009, Trung Quốc cử tám chiếc tàu ngư chính hiện đại đến khu vực để thi hành lệnh cấm. Việt Nam gởi công hàm ngoại giao phản đối. Theo các phương tiện truyền thông Việt Nam, Trung Quốc đă hành động thô bạo hơn trước đây. Tàu Trung Quốc chận tàu Việt Nam lại, leo lên và tịch thu lượng cá đánh bắt được. Họ c̣n đuổi tàu thuyền Việt Nam khác ra khỏi khu vực cấm. Trong một trường hợp, một chiếc tàu ngư chínhTrung Quốc đă đâm ch́m một chiếc tàu Việt Nam.

 

Ngày 16 tháng 6 (2009), Trung Quốc bắt giữ ba chiếc thuyền Việt Nam và ba mươi bảy thuyền viên tại vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa. Sau khi thả hai chiếc tàu cùng thủy thủ đoàn, Trung Quốc giữ lại chiếc thứ ba và mười hai thuyền viên, đ̣i nộp 31.700 $ tiền phạt. Hành động của Trung Quốc đă gây ra bất b́nh nơi giới chức chính quyền địa phương tỉnh Quảng Ngăi, nơi xuất phát của các ngư dân bị bắt giữ. Họ tuyên bố từ chối trả tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đă gởi công hàm phản đối tới Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội yêu cầu trả tự do cho các ngư dân bị bắt giữ (...)

 

Qua tháng tám 2009, hai chiếc tàu đánh cá Việt Nam với một đoàn thủy thủ tổng cộng 25 người đă dạt vào quần đảo Hoàng Sa để tránh băo. Họ liền bị chính quyền Trung Quốc giam giữ. Việt Nam không chỉ yêu cầu Trung Quốc trả tự do cho công dân của ḿnh mà c̣n cứng rắn hơn, đe dọa hủy bỏ một cuộc họp đă được lên kế hoạch để thảo luận về vấn đề hàng hải. Trung Quốc thả các ngư dân và các cuộc đàm phán cấp thứ trưởng đă được tổ chức trong những ngày 12-14/08/ 2009 tại Hà Nội.”

 

Về các biến cố xảy ra trong năm 2010, Giáo sư Thayer đặc biệt ghi nhận một chiến thuật được ngư dân Việt Nam sử dụng để chống lại tàu ngư chính của Trung Quốc :

 

‘’Đến tháng tư năm 2010, Trung Quốc lại một lần nữa đơn phương công bố lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Họ cử hai tàu tuần tra Ngư Chính (Yuzheng) 311 và 202 xuống hiện trường để thực thi lệnh cấm này và để giúp đỡ ngư dân Trung Quốc vốn cho biết là họ bị cơ quan hàng hải Việt Nam sách nhiễu.
Khi hai chiếc tàu ngư chính Trung Quốc đến nơi, họ phải đối phó với một chiến thuật mới của Việt
Nam. Thuyền đánh cá Việt Nam bao quanh chiếc Ngư Chính 311, ngăn cản không cho vận hành một cách an toàn. Khi thông tin về cuộc tập trận thứ hai của hải quân Trung Quốc được công bố, tàu thuyền đánh cá của Việt Nam đă rời khỏi khu vực".

 

Về tham vọng của Trung Quốc muốn độc chiếm hầu như toàn bộ vùng Biển Đông, giáo sư Thayer giải thích :

 

“Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Giới hạn của Thềm Lục Địa (CLCS) đă ấn định ngày 13 tháng Năm 2009 là thời hạn chót để các nước có bờ biển nộp bản tuyên bố về vùng thềm lục địa mở rộng ra ngoài giới hạn 200 hải lư quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

 

Ngày 06/05, Malaysia và Việt Nam đệ tŕnh một đề nghị chung của hai nước, và hôm sau, Việt Nam cũng tŕnh bày một yêu cầu riêng biệt. Trung Quốc lập tức lên tiếng phản đối nhưng không chính thức đệ tŕnh bản đề nghị của ḿnh. Theo quy định của Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về Giới hạn của Thềm Lục Địa (CLCS), các bản đề nghị bị tranh chấp không được xem xét. Việt Nam đối phó với hành động của Trung Quốc bằng cách đệ tŕnh bản kháng nghị của ḿnh.”

 

Điều đáng nói là thay v́ khẳng định chủ quyền suông như trước đây, lần này Trung Quốc đă đính kèm theo các đ̣i hỏi lănh hải của họ một tấm bản đồ gồm chín ḍng gián đoạn tạo thành một khu vực h́nh chữ U thâu tóm hầu như toàn bộ vùng Biển Đông về tay Trung Quốc. Đối với giáo sư Thayer, đây là một bước mới trong chính sách Biển Đông của Bắc Kinh :

 

“Có thể nói đây là lần đầu tiên mà Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa chính thức tŕnh bày đ̣i hỏi chủ quyền theo cách này. Trước đây, không có bất kỳ tấm bản đồ nào như vậy được gắn vào ba bản tuyên bố chính và bộ luật mà Trung Quốc thường xuyên viện dẫn để hỗ trợ cho các đ̣i hỏi vùng biển của họ: Tuyên bố về Lănh hải của Trung Quốc (09/1958), Tuyên bố của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Lănh hải và Vùng lân cận (1992), Tuyên bố của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Đường cơ sở của lănh hải (1996), và Luật của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (1998)”.

 

Thái độ quyết đoán của Trung Quốc thúc đẩy Hoa Kỳ nhập cuộc

 

Chính các hành động càng lúc càng quyết đoán kể trên của Trung Quốc tại Biển Đông đă khiến cho Hoa Kỳ quan ngại về các mối đe dọa đối với quyền lợi của Mỹ trong khu vực. Giáo sư Thayer phân tích :

 

“Trong quá khứ Hoa Kỳ đă nói rơ là họ không thiên về bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia có liên can, mà chỉ tập trung mối quan tâm vào vấn đề an toàn và tự do hàng hải. Điều này vẫn là lập trường của Hoa Kỳ.

 

Thế nhưng hiện thời Hoa Kỳ đă trở thành chủ động hơn v́ các mối đe dọa của Trung Quốc nhắm vào các lợi ích thương mại của Mỹ và v́ suy nghĩ đang gia tăng trong vùng, cho rằng ưu thế của Mỹ có thể là đang suy tàn.

 

Trong những tháng đầu của chính quyền Obama, đă xẩy ra tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines sau khi Manila thông qua bộ luật về Đường cơ sở của quần đảo này. Trung Quốc phản đối và gửi một tàu tuần tra đến giám sát các vùng biển đang tranh chấp. Tổng thống Obama đă gọi điện choTổng thống Gloria Macapagal-Arroyo để tái khẳng định quan hệ an ninh hỗ tương giữa hai nước và các cam kết của Washington ghi trong và Hiệp định quân sự Visiting Forces Agreement đă kư kết. Thời điểm cuộc gọi được rất nhiều người cho là nhằm hỗ trợ cho Philippines trong vụ tranh căi với Bắc Kinh.

 

Đến tháng 7/2009, chính quyền Mỹ nêu rơ chính sách của ḿnh đối với cácvấn đề hàng hải ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Hai quan chức, Phó Trợ lư Ngoại trưởng Scot Marciel của Bộ Ngoại giao và Phó Trợ lư Bộ trưởng Quốc pḥng Robert Scher, đă được cử đến Thượng Viện để điều trần trước Tiểu Ban Đông Á và Thái B́nh Dương của Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện.

 

Phó Trợ lư Ngoại trưởng Marciel bác bỏ thẳng thừng tuyên bố của Trung Quốc về lănh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) mà không xuất phát từ một lănh thổ đất liền. Ông Marciel khẳng định: "Những đ̣i hỏi hàng hải như vậy không phù hợp với luật pháp quốc tế ". Ông cũng lưu ư rằng Hoa Kỳ có "một lợi ích thiết yếu trong việc duy tŕ ổn định, tự do hàng hải và quyền hoạt động thương mại hợp pháp tại các đường biển vùng Đông Á" (CT nhấn mạnh).
Và một cách cụ thể hơn, sau khi điểm qua các vụ Trung Quốc đe dọa các công ty dầu khí Mỹ làm việc với đối tác Việt
Nam, ông Marciel nói: "Chúng tôi phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe doạ các công ty Hoa Kỳ".

 

Theo giáo sư Thayer, việc Trung Quốc gây căng thẳng tại Biển Đông c̣n có một hệ quả thứ hai. Đó khiến cho Việt Nam cởi mở hơn trong việc đẩy mạnh quan hệ quốc pḥng với Hoa Kỳ.

 

“Vào tháng sáu năm 2008, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đă thực hiện một chuyến đi quan trọng qua Hoa Kỳ, gặp gỡ Tổng thống George W. Bush. Ông cũng trở thành thủ tướng Việt Nam đầu tiên kể từ năm 1975 đă đến Lầu Năm Góc. Trong một tuyên bố chung đưa ra sau cuộc họp Bush-Dũng, hai bên đồng ư tổ chức thường xuyên các cuộc đàm phán cấp cao về các vấn đề an ninh và chiến lược. Hơn nữa, Tổng thống Bush cũng nói rằng Hoa Kỳ ủng hộ "chủ quyền quốc gia của Việt Nam, an ninh và toàn vẹn lănh thổ".

 

Tuyên bố chưa từng thấy của Tổng thống Bush có thể được lư giải nhiều cách khác nhau v́ không xác định rơ ràng vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Tuy nhiên, câu nói này đă củng cố ư kiến của Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ Robert Gates trước đó trong năm tại Singapore : ''Trong chuyến đi châu Á của tôi, tôi nghe từng nghe thấy các vị khách của tôi lo lắng về tác động của nhu cầu tài nguyên gia tăng trên vấn đề an ninh, và về đường lối cưỡng chế ngoại giao, và những áp lực khác có nguy cơ tạo ra những biến chứng gây rối ...”.

 

Gộp lại với nhau, các ư kiến của Tổng thống Bush, Bộ trưởng Gates và Trợ lư Ngoại trưởng Marciel chứng minh rằng Washington đă lưu ư Bắc Kinh là phải đ́nh chỉ việc đe dọa các công ty Mỹ muốn làm ăn với Việt Nam trong lănh vực dầu khí ở vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông)”.

 

Đối với Giáo sư Thayer, sau một thời gian ngần ngại, tŕ hoăn, Việt Nam đă mạnh dạn hơn trong việc tăng cường quan hệ quốc pḥng với Mỹ :

 

‘’Vào tháng 10/2008, Việt Nam và Hoa Kỳ khai trương cuộc đối thoại chính trị-quân sự cao cấp đầu tiên giữa hai bộ Ngoại giao.

 

Tháng tư năm 2009, quan chức quân sự Việt Nam được đưa ra tàu sân bay USS John Stennis để quan sát các phi vụ trong vùng biển Đông.

 

Trong tháng 8 năm 2009 và tháng ba năm 2010, nhà máy đóng tàu Việt Nam tiến hành công việc sửa chữa bảo tŕ hai chiếc tàu thuộc bộ chỉ huy Hải quân Hoa Kỳ Sealift Command.

 

Cuối năm 2009, Bộ trưởng Quốc pḥng Việt Nam, tướng Phùng Quang Thanh công du Washington và thảo luận với Bộ trưởng Quốc pḥng Gates tại Lầu Năm Góc.

 

Trên đường đến Washington, Tướng Thanh dừng chân ở Hawaii để thăm Bộ Tư lệnh Thái B́nh Dương của quân đội Mỹ. Tại đấy, ông được chụp ảnh lúc nh́n vào kính viễn vọng của một tàu ngầm Mỹ.

 

Hoa Kỳ và Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức của hội đàm quân sự cao cấp đầu tiên giữa hai bên trong nửa sau của năm 2010.

 

Cuối cùng, Bản duyệt xét quốc pḥng năm 2010 của Mỹ Quadrennial Defense Review nêu bật khả năng Việt Nam (cùng với Indonesia và Malaysia) là một đối tác chiến lược tiềm tàng của Hoa Kỳ. ‘’

 

Trong phần năm và cũng là phần cuối của bài viết, giáo sư Carl Thayer đề cập đến những trở ngại ngăn cản sự phát triển quan hệ Mỹ-Trung. Sau khi ghi nhận mong muốn và một số hành động cụ thể của chính quyền Obama nhằm nâng mức Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Mỹ - Trung lên cấp bộ trưởng, ông Thayer đă nêu bật thái độ dè dặt của phía quân đội Trung Quốc đă được chính tướng Từ Tài Hậu (Xu Caihou), phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, nêu lên nhân chuyến công du Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2009 :

 

« Tướng Trung Quốc Từ Tài Hậu… đă nêu ra bốn trở ngại chính cho sự phát triển quan hệ quân sự Mỹ Trung :
- Trước tiên và cũng là điều quan trọng nhất : đó là mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Đài Loan. Vấn đề Đài Loan thuộc phạm vi lợi ích cốt lơi của Trung Quốc, và là vấn đề cốt lơi trong quan hệ Mỹ Trung. Nếu
Washington không giải quyết tốt điểm này th́ không thể có quan hệ quân sự Mỹ-Trung ổn định.

 

- Thứ hai là máy bay, tầu chiến Mỹ cần phải chấm dứt xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc hy vọng là quân đội Mỹ tôn trọng Công ước Quốc tế về Luật biển cũng như những luật lệ hàng hải của Trung Quốc, và đ́nh chỉ các hành động nói trên vốn đe dọa an ninh và quyền lợi của Trung Quốc.

 

- Thứ ba là Hoa Kỳ vẫn có những luật lệ cản trở sự phát triển quan hệ quân sự với Trung Quốc, đặc biệt là Luật Chuẩn Chi Quốc pḥng của Mỹ năm 2000 (Defense Authorization Act), được thông qua năm 1999.

 

- Một trỏ ngại khác là Mỹ thiếu vắng ḷng tin chiến lược vào Trung Quốc”

 

Trung Quốc hù dọa Việt Nam khi biến Biển Đông thành vùng « lợi ích cốt lơi »

 

Chỉ ít lâu sau tuyên bố kể trên, vào tháng ba năm nay, Bắc Kinh đă lấn thêm một bước khi nói với các quan chức Mỹ công du Trung Quốc rằng Biển Nam Trung Hoa, tức là Biển Đông đă trở thành vùng « lợi ích cốt lơi » về chủ quyền và sẽ không cho phép bên ngoài can thiệp vào hồ sơ này. Đối với giáo sư Thayer, lời đe dọa đó hàm ư nói Bắc Kinh sẽ dùng vũ lực để bảo vệ « lợi ích cốt lơi » của họ. Theo ông Thayer, có nhiều cách giải thích thái độ của Trung Quốc :

 

"Trước tiên, có thể Bắc Kinh có ư đồ gây sức ép buộc Hà Nội chấp nhận những thỏa thuận liên quan đến việc cùng thăm ḍ và khai thác dầu khí ở ngoài khơi Việt Nam, tương tự như thỏa thuận hồi tháng 06/2008 giữa Trung Quốc và Nhật Bản cùng phát triển vùng dầu khí Xuân Hiểu tại những vùng biển có tranh chấp về chủ quyền ở biển Nhật Bản, tức biển Hoa Đông.

 

Nếu đúng vậy th́ nỗ lực của Trung Quốc khó thành công bỏi v́ vùng có trữ lượng dầu khí mà Trung Quốc muốn nhắm tới lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư của Việt Nam. Hơn nữa, với tư tưởng dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ, Việt Nam sẽ kháng cự lại ư đồ doạ nạt của Trung Quốc muốn buộc Hà Nội chấp nhận thỏa thuận.

 

Mặt khác, Trung Quốc cũng không thành công trong việc gây sức ép, ngăn cản các tập đoàn dầu khí Mỹ và ngoại quốc không làm ăn với Việt Nam. Có những dấu hiệu cho thấy là cả hai công ty British Petroleum và ExxonMobil có ư định tiếp tục thực hiện các hợp đồng đă kư. Chính quyền Washington cũng đă nói rơ với Bắc Kinh là họ sẽ chống lại mọi sự đe dọa nhắm vào các doanh nghiệp Mỹ.

 

Cách giải thích thứ hai là Trung Quốc có thể bắn tín hiệu cho Việt Nam thấy là họ rất không tán thành quan hệ an ninh Mỹ-Việt ngày càng phát triển. Mục đích là tác động đến những thảo luận ở hậu trường tại Việt Nam trong giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11 sẽ tổ chức vào tháng giêng năm 2011. Kể từ khi Việt Nam và Mỹ b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao, vào năm 1995, chính quyền Hà Nội luôn thận trọng hạn chế quy mô quan hệ quốc pḥng với Washington để tránh làm phật ḷng Bắc Kinh".

 

Tuy nhiên, theo giáo sư Thayer, kể từ 2003, quan hệ quân sự song phương Mỹ-Việt đă tăng tốc, một xu hướng ngày càng rơ hơn như để đáp trả những hành động của Trung Quốc tại vùng Biển Đông :

 

"Cuối năm 2007, Quốc hội Trung Quốc đă thông qua những quy định quản lư hành chính khu vực Biển Đông. Điều này đă dấy lên những phản ứng mạnh mẽ trong giới trẻ, sinh viên Việt Nam. Phản ứng này càng phát triển mạnh trong năm 2008 và gia tăng cường độ khi tướng Vơ Nguyên Giáp tuyên bố rằng sự dính líu của Trung Quốc vào mỏ quặng bauxite ở Tây Nguyên là một mối đe dọa an ninh quốc gia. Sự trỗi dậy của tư tưởng dân tộc chủ nghĩa bài Hoa tại Việt Nam là một thách thức chính trị trực tiếp đối với sự lănh đạo của đảng và việc quản lư mối quan hệ của đảng với Bắc Kinh.

 

Giới quan sát t́nh h́nh Việt Nam dự đoán rằng ban lănh đạo đảng Cộng sản Việt Nam bị chia rẽ giữa một bên là những người chủ trương hội nhập toàn cầu, và bên kia là những người đặt ưu tiên là ḥa thuận với Trung Quốc, coi đó là một đồng minh xă hội chủ nghĩa. Những người lănh đạo bảo thủ trong đảng muốn thúc đẩy ḥa thuận với Trung Quốc th́ lo ngại là tư tưởng bài Hoa tại Việt Nam có thể làm ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.

 

Sự quyết đoán của Trung Quốc có thể nhằm mục đích thuần phục Việt Nam qua việc chứng tỏ cho Hà Nội thấy ḥa thuận th́ có lợi hơn là đối đầu. Nếu giả thuyết này đúng, th́ Trung Quốc đă hiểu sai Việt Nam bởi v́ chính những lănh đạo bảo thủ trong đảng Cộng sản Việt Nam đă phải ủng hộ việc hiện đại hóa quốc pḥng»

 

Giáo sư Thayer c̣n nêu lên một giải thích thứ ba cho sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc, đó là những mối quan ngại có tính chất địa lư chiến lược vào lúc nhu cầu về năng lượng của Trung Quốc tăng cao, cần phải bảo đảm an ninh cho tuyến giao thông đường biển và hỗ trợ cho tham vọng siêu cường nước lớn của ḿnh.

 

"Việc phát hiện những trữ lượng dầu khí ở vùng Biển Đông đă làm cho Bắc Kinh thay đổi quan điểm về khu vực này. Trung Quốc không chỉ tiến hành các chương tŕnh chủ chốt để hiện đại hóa quân đội mà c̣n xây dựng một căn cứ hải quân quan trọng ở đảo Hải Nam, và từ đây, Trung Quốc có thể triển khai sức mạnh quân sự ở Biển Đông, củng cố những đ̣i hỏi về chủ quyền của ḿnh.

 

Vào năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đă kư Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông, làm cơ sở giải quyết các tranh chấp về chủ quyền... Mặc dù có Tuyên bố này, các tranh chấp về chủ quyền, lănh hải vẫn tiếp tục gia tăng từ mức thấp lên mức trung b́nh trong ba năm qua. Các sự cố giữa tàu Trung Quốc và Mỹ vừa qua cho thấy Biển Đông một lần nữa lại có thể vươn lên hàng đẩu trong số các nguyên nhân gây ra chiến tranh nếu không được quản lư một cách phù hợp".

 

Trên cơ sở những phân tích kể trên, giáo sư Thayer đưa ra một số gợi ư nhằm làm giảm căng thẳng trong khu vực :

 

"1- Cần phải khuyến khích Trung Quốc hơp tác với những quốc gia ven biển trong việc cùng quản lư nguồn cá tại Biển Đông và qua đó, ngăn ngừa được việc áp dụng một cách hung hăng những lệnh cấm đánh cá đơn phương.

 

2- Khi bản Tuyên bố về ứng xử của các bên được thương lượng, th́ các bên đă thỏa thuận rằng đây chỉ là giai đoạn đầu tiên hướng tới một bộ Luật ứng xử. Giờ đây, ASEAN và Trung Quốc cần thiết phải làm rơ và xây dựng một « lộ tŕnh » qua việc tiến hành thương lượng một bộ Luật ứng xử mang tính pháp lư ràng buộc hơn đối với vùng Biển Đông.

 

3- Trung Quốc và Mỹ cần phải đàm phán về một Thỏa thuận giải quyết những sự cố trên biển nhằm ngăn ngừa những hiểu lầm và nguy cơ đụng độ tàu bè trên biển.

 

4- Trung Quốc và các quốc gia nguyên tử khác, đặc biệt là những thành viên của Hội Đồng Bảo An nên tham gia vào Hiệp ước Đông Nam Á không có Vũ khí hạt nhân. Từ lâu nay, Trung Quốc cho biết là có thể kư kết Hiệp ước này. ASEAN cần phải làm rơ phạm vi địa lư áp dụng bản Hiệp ước này liệu có bao gồm phần ngoài khơi vùng biển phía nam đảo Hải Nam hay không.

 

5- Các quốc gia trong khu vực cần đưa ra sáng kiến tổ chức những cuộc thảo luận ở cấp quan chức cao cấp về Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển để chấm dứt sự bế tắc về những đ̣i hỏi mở rộng thềm lục địa và làm rơ loại hoạt động của tàu chiến nào có thể được tiến hành tại Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước khác.

 

6- Cuộc họp sắp tới của Hội nghị Bộ trưởng Quốc Pḥng ASEAN với các nước đối thoại (ADMM Plus) tại Hà Nội cần xem xét việc xây dựng ḷng tin và các biện pháp ngoại giao pḥng ngừa cho vùng Biển Đông.

 

7- Các quốc gia trong khu vực nên tiến hành thảo luận để đánh giá những đề nghị nhằm củng cố cấu trúc an ninh khu vực thông qua một cơ chế bao gồm những cuộc gặp thường kỳ giữa những người đứng đầu nhà nước/chính phủ nhằm giải quyết một loạt những vấn đề liên quan có thể tác động đến an ninh khu vực".

------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

MỸ DỨT KHOÁT CAN DỰ VÀO BIỂN ĐÔNG
DẰN MẶT TRUNGCỘNG RĂN ĐE BẮC HÀN

 

LƯ ĐẠI NGUYÊN



 

Nữ ngoại trưởng kỳ Hillary Clinton đă có mặt tại Việtnam hôm 22/07/2010, mở đầu chuyến công du, đánh dấu kỷ niệm 15 năm Việt-Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao và tham dự Diễn Đàn Hợp Tác An Ninh ASEAN. Lên tiếng với báo chí sau cuộc gặp với người tương nhiệm về phía Hànội là Phạm Gia Khiêm. Bà nói: “Việtnam với một dân số năng động và người dân thực độc đáo – đang trên đường trở thành một quốc gia vĩ đại với tiềm năng vô biên – đó là một trong những lư do khiến Hoakỳ bày tỏ quan ngại về vấn đề nhân quyền với phía Việtnam”. Bà Clinton bày tỏ mối quan ngại của Hoakỳ về thái độ mà bà gọi là “không khoan dung” với những người bất đồng chính kiến như: “Những vụ tống giam những người đấu tranh cho dân chủ, những hành động tấn công vào một số nhóm tôn giáo, hay việc đàn áp một số Websites trên mạng internet”. Sau bữa ăn trưa với các doanh nhân Việt và Mỹ bà Clinton đă trở lại đề tài này, Bà nhắc đến các khác biệt sâu đậm giữa Việtnam và Hoakỳ trên vấn đề tự do chính trị. Bà xác định là “Hoakỳ sẽ thúc dục Việtnam nỗ lực nhiền hơn nữa trong v́ệc bảo vệ quyền tự do cá nhân”.

Phạm gia Khiêm gượng gạo chống đỡ rằng: “Khái niệm nhân quyền bắt nguồn từ đặc thù văn hóa và lịch sử của mỗi nước”. Đúng là láo toét! Văn hóa và lịch sử Việtnam đâu có dậy kẻ cầm quyền khủng bố đàn áp dân chúng, tước đoạt quyền tự do lựa chọn của công dân, cướp đoạt tài sản đất đai của toàn dân, như bọn Việtcộng đang làm hiện nay. Văn hóa dân tộc Việtnam lấy Con Người làm cứu cánh, cho nên đă bao phen “bỏ đất giữ dân”, mở ra các đợt di cư kỳ vĩ, cũng như các cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước kiêu hùng để mưu t́m độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự cho giống ṇi Lạc Việt. Văn Hóa và Lịch Sử Việtnam đặt gía trị Con Người linh hơn Vạn Vật. Chỉ có bọn Việtcộng mới hạ thấp giá trị Con Người xuống hàng Duy Vật, nhằm cướp mất nhân quyền, hèn hoá toàn dân, bắt làm nô lệ cho bọn cầm quyền. Rồi bọn cầm quyền lại làm tay sai cho các Đế Quốc Cộng Sản đàn anh trước kia, và rồi hậu quả đến ngày nay đảng cộng sản và nhà cầm quyền Việtnam vẫn đang bị bọn Bành Trướng Bắc Kinh khống chế, buộc phải ngậm miệng để cho Trungcộng tiến chiếm Hoàngsa, Trườngsa và toàn cơi Biển Đông.

Từ đó Trungcộng đă ngang nhiên xác định khu vực này là “vùng quyền lợi quốc gia thiết thân” của họ, như Đàiloan, Tâncương, Tâytạng. Khiến cho các nước ASEAN lần thứ 43 quyết định: “Mở rộng Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á, mời Hoakỳ và Nga tham gia. Đó là mong muốn tăng cường quan hệ với Washington và Moscow”. Tuy nghị tŕnh của Diễn Đàn ARF v́ có mặt của Dương Khiết Tŕ, bộ trưởng ngoại giao Trungcộng nên không thấy nêu ra vấn đề ‘Tranh Chấp Biển Đông’, nhưng trong cuộc họp chính thức ngày 23/07 tại Hànội, ngoại trưởng Mỹ Clinton đă phát pháo lệnh về Biển Đông. Bà nhấn mạnh đến quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Với tư cách Ngoại Trưởng Hoakỳ, bà Hillary Clinton tuyên bố: “V́ quyền lợi của quốc gia, Hoakỳ mong muốn thấy các quốc gia liên quan đến vụ tranh chấp chủ quyền ở Hoàngsa và Trườngsa giải quyết với nhau bằng đường lối ôn ḥa, tôn trọng các điều khoản được ghi trong công ước về biển và lănh hải do Liên Hiệp Quốc soạn thảo”. “Hoakỳ không ủng hộ bất kỳ tuyên bố chủ quyền quần đảo này của bất cứ nước nào, nhưng khu vực Châu Á Thái B́nh Dương gắn kết với nhau bằng đường biển, do đó ḥa b́nh và an ninh trên biển, cũng như an toàn hàng hải là điều rất quan trọng”. Hiệp Hội các nước Đông Nam Á đă ra tuyên bố chung là. “Vấn đề Biển Đông đă được các ngoại trưởng ASEAN đặc biệt chú ư dành hẳn một phần riêng cho hồ sơ trong một thông cáo. Khẳng định lại tầm quan trọng của Tuyên Bố Về Ứng Xử Của Các Bên Ở Biển Đông -DOC- với tư cách một văn kiện mang tính cột mốc giữa ASEAN và Trungquốc”. “Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bên tôn trọng tự do hàng hải và hàng không bên trên Biển Đông, như đă được quy định trong các nguyên tắc đă được thừa nhận của luật pháp quốc tế”.

Đến đây thấy được rằng Hoakỳ và các nước Đông Nam Á hoàn toàn ủng hộ “Chiến Lược Quốc Tế Hóa cuộc tranh chấp Biển Đông của Việtnam, bằng cách lôi kéo nhiều nước khác nhập cuộc, buộc Trungcộng phải chấp nhận đàm phán trong các diễn đàn đa phương, thay v́ chủ trương nói chuyện song phương của Trungcộng. Tại Hội nghị, Dương Khiết Tŕ bị rơi vào thế đơn độc, đă yếu ớt nhắc lại rằng: “Tranh chấp không nên được quốc tế hóa”. Có nghĩa là cứ để Trungcộng một ḿnh tranh chấp với từng nước cho dễ nuốt. Sau đó Dương Khiết Tŕ được Nông Đức Mạnh, tổng bí thứ đảng cộng sản Việtnam tiếp kiến riêng và đưa ra những lời vuốt ve, hứa hẹn quen thuộc của một tên đàn em thân tín. Bắckinh gay gắt cho là tuyên bố của ngoại trưởng Clinton về Biển Đông là tấn công nhằm vào Trungquốc. Hai ngày sau khi ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói: “Giải quyết vấn đề Biển Đông là điều tối quan trọng cho ổn định khu vực” th́ bộ trưởng ngoại giao Trungcộng Dương Khiết Tŕ đưa ra lời cảnh báo có đoạn viết: “Quốc tế hoá chủ đề này th́ liệu mang lại được kết quả ǵ, hay chỉ khiến mọi việc tồi tệ hơn và khó giải quyết hơn mà thôi?”. Họ Dương nhấn mạnh: “Các tuyên bố tưởng là công bằng của bà ngoại trưởng chính là để tấn công vào Trungquốc”.

Lời nói của nữ ngoại trưởng Clinton dứt khoát can dự vào Biển Đông, đi đôi với lời tuyên bố của Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Hoakỳ ngày 23/07/10, rằng: “Trungquốc đă đi theo đường lối ngày càng hung hăng hơn trong vùng biển gần nước họ”, được hậu thuẫn bởi hành động quân sự của bộ Quốc Pḥng Mỹ bằng một cuộc tập trận chung giữa Mỹ-Hàn, tại vùng biển Nhậtbản, gọi là “Tinh Thần Bất Khuất” khai diễn đại quy mô. Huy động khoảng 20 tàu chiến, có hàng không mẫu hạm USS George Washington, 200 chiến đấu cơ, có 4 phi cơ tiêm kích Raptor F-22, với 8.000 binh sĩ. Cả Hoa Thịnh Đốn và Hán Thành đều nhấn mạnh, cuộc tập trận kéo dài từ 25 đến 28/07/10 lần này là một thông điệp mạnh gửi tới nhà cầm quyền Bắc Triều Tiên. Lẽ đương nhiên ngoài việc răn đe Hàncộng, cuộc tâp trận c̣n là sự dằn mặt Trungcộng nữa. V́ Hàncộng từng lớn tiếng dọa sẽ tiến hành “chiến tranh thần thánh” chống Mỹ và Nam Triền Tiên. Trungcộng th́ tỏ dấu vui mừng, đại ư cho rằng: Mỹ đưa hàng không mẩu hạm tối tân nhất lại gần để họ dễ tiêu diệt. Tuy nhiên dù biết cả Bắc Hàn và Trungcộng chỉ đánh vơ mồm chứ chưa đủ sức tấn công trực diện với quân lực Mỹ. Nhưng khi Trungcộng loan báo từ 30/06 đến 05/07/10 tập trận tại Đông Hải, th́ Mỹ đă điều ba tàu ngầm cực tối tân tới các cảng ở châu Á. Tàu USS Michigan tới Pusan Hànquốc, tàu USS Ohio tới Vịnh Subic Philippines, tàu USS Florida tới Ấn Độ Dương. Tổng số tên lửa của 3 tàu này lên tới 462 chiếc hỏa tiễn Tomahawk, đây là một hỏa lực cực lớn, đủ khả năng làm tê liệt sức tấn công của đối thủ trước mắt. Đến nay bộ quốc pḥng Hànquốc cho biết chưa có dấu hiệu bất thường nào từ phía đối phương.

 

Little Saigon ngày 27/07/2010.
-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

MỸ ĐẶT HÀNG TRĂM TÊN LỬA QUANH TRUNG QUỐC

Quân đội Trung Quốc như choàng tỉnh sau khi phát hiện ra có tới 462 tên lửa Tomahawks mới được Mỹ triển khai ở những nước láng giềng xung quanh họ. Vậy Washington muốn nhắn gửi ǵ với Bắc Kinh thông qua động thái này?


Tàu ngầm U.S.S Ohio của Mỹ.

 


Nếu các hệ thống vệ tinh và do thám của Trung Quốc hoạt động hữu hiệu th́ hồi cuối tháng trước chắc chắn đă có một loạt những thông tin t́nh báo đáng lo ngại đổ về trụ sở của Hải quân nước này ở thủ đô Bắc Kinh. Một loại siêu vũ khí mới của Mỹ đột nhiên xuất hiện gần lănh thổ Trung Quốc. Đó là một chiếc tàu ngầm lớp Ohio – con tàu mà trong nhiều thập kỷ chỉ mang những tên lửa đầu đạn hạt nhân nhằm mục tiêu vào Liên Xô và sau này là Nga.

Nhưng lần này lại khác: trong gần 3 năm qua, Hải quân Mỹ đă âm thầm cử những chiếc tàu ngầm lớp Ohio được cải biến đến những nơi không ai biết v́ những con tàu này đi dưới nước. 4 trong số 18 tàu ngầm lớp Ohio không c̣n mang theo những tên lửa mang đầu đạn hạt nhân Trident. Thay vào đó, mỗi chiếc tàu ngầm này được trang bị tới 154 tên lửa hành tŕnh Tomahawk có khả năng bắn trúng bất kỳ mục tiêu nào trong ṿng hơn 1.600km với đầu đạn không hạt nhân.

Chúng ta sẽ phải kinh ngạc khi chứng kiến khả năng của những chiếc tàu ngầm nói trên. 14 chiếc tàu ngầm mang tên lửa Trident rất hữu ích khi có chiến tranh hạt nhân – điều mà trên thực tế có thể không bao giờ xảy ra, và Nga vẫn là mục tiêu chính của những con tàu này. Trong khi đó, “nhóm bộ tứ” được trang bị tên lửa hành tŕnh Tomahawk đang mang trên ḿnh một loại vũ khí mà quân đội Mỹ rất hay sử dụng để bắn phá các mục tiêu ở Afghanistan, Bosnia, Iraq và Sudan.

Đó là lư do tại sau mà chuông báo động đă rung lên ở thủ đô Bắc Kinh hôm 28/6 khi con tàu U.S.S. Ohio dài 170m “chất đầy” tên lửa Tomahawk của Mỹ bất ngờ nổi lên ở Vịnh Subic của Philippine. Nhiều tiếng chuông báo động có thể cũng đă vang lên khi cùng ngày, một tàu chiến khác của Mỹ là U.S.S. Michigan đến Pusan, Hàn Quốc. Và chuông báo động đă kêu vang hết cỡ khi tàu ngầm USS Florida xuất hiện tại căn cứ hải quân chung Anh – Mỹ ở Diego Gracia trên một ḥn đảo ở Ấn Độ Dương, cùng thời điểm với sự xuất hiện của tàu U.S.S Ohio và tàu U.S.S Michigan.

Quân đội Trung Quốc như choàng tỉnh sau khi phát hiện ra có tới 462 tên lửa Tomahawks mới được Mỹ triển khai ở những nước láng giềng xung quanh họ. "Đă có quyết định củng cố lực lượng của chúng tôi ở Thái B́nh Dương. Điều đó chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc giật ḿnh và buộc phải chú ư”. Đó là nhận định của ông Bonnie Glaser, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược ở thủ đô Washington.

Các quan chức Mỹ bác bỏ thông tin cho rằng họ đang muốn gửi gắm một thông điệp đến Bắc Kinh, nói rằng sự xuất hiện của bộ ba tàu ngầm mang tên lửa Tomahawk chỉ là một sự t́nh cờ ngẫu nhiên. Nhưng Washington chắc chắn rằng tin tức về việc họ triển khai các tàu ngầm ở những khu vực gần Trung Quốc đă xuất hiện trên tờ South China Morning Post có trụ sở ở Hồng Kông, vào ngày 4/7.

Bắc Kinh đă âm thầm, lặng lẽ theo dơi thông tin này. "Hiện nay, nguyện vọng chung của các quốc gia ở khu vực Châu Á-Thái B́nh Dương là t́m kiếm ḥa b́nh, sự ổn định và an ninh khu vực. Chúng tôi hy vọng các hoạt động quân sự có liên quan của Mỹ ở đây sẽ giúp củng cố ḥa b́nh, sự ổn định và an ninh trong khu vực chứ không phải điều ngược lại," ông Wang Baodong, phát ngôn viên của Đại sứ Trung Quốc tại Washington, đă phát biểu như vậy.

Tháng trước, Hải quân Mỹ thông báo rằng tất cả 4 chiếc tàu ngầm mang tên lửa hành tŕnh Tomahawk đă lần đầu tiên được triển khai ở khu vực xa cảng nhà. Theo Đại úy Tracy Howard thuộc hạm đội tàu ngầm số 16 đóng tại Kings Bay, Georga, 4 chiếc tàu ngầm này có thể “đáp trả tất cả các mối đe dọa khác nhau trong một thời gian ngắn sau khi nhận được thông báo."

Động thái trên là một phần trong chính sách của Mỹ liên quan đến việc chuyển hỏa lực từ Đại Tây Dương sang Thái B́nh Dương – khu vực mà Washington xem là trọng tâm quân sự trong thế kỷ 21. Căng thẳng dịu đi từ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc là nguyên nhân khiến Mỹ giảm hoạt động triển khai vũ khí hạt nhân, cho phép lực lượng Hải quân nước này giảm hạm đội tàu ngầm mang tên lửa Trident từ 18 xuống c̣n 14.

Đáng ra Hải quân Mỹ đă có thể cho 4 chiếc tàu ngầm này “nghỉ hưu” để tiết kiệm tiền cho Lầu Năm Góc nhưng đó không phải là cách chính quyền hoạt động. Thay vào đó, Washington đă bỏ ra khoảng 4 tỉ USD để thay thế những tên lửa Trident bằng tên lửa Tomahawks và xây thêm 60 pḥng đặc biệt cho binh lính trên mỗi chiếc tàu ngầm. Sau đó, những chiếc tàu này được cử đi hoạt động lén lút trên toàn cầu. "Chúng tôi ở đó hàng tuần, chúng tôi theo dơi t́nh h́nh cũng như môi trường ở đó. Chúng tôi có thể phát hiện, phân loại và định vị các mục tiêu và nếu cần thiết sẽ bắn chúng," Thiếu tướng Hải quân Mark Kenny giải thích sau khi chiếc tàu ngầm đầu tiên được thay thế tên lửa Trident bằng tên lửa Tomahawk ra khơi năm 2008.

Những chiếc tàu ngầm của Mỹ không phải là vấn đề mới gây lo ngại duy nhất đối với Trung Quốc. Hai cuộc tập trận quân sự lớn mới nhất liên quan đến Mỹ và các đồng minh trong khu vực cũng khiến Bắc Kinh phải giật ḿnh cảnh giác. Gần 40 chiếc tàu chiến và tàu ngầm hải quân đă bắt đầu tham gia vào cuộc tập trận “Vành đai Thái B́nh Dương” ở ngoài khơi Hawaii từ hồi cuối tháng 6. Khoảng 20.000 binh lính đến từ 14 quốc gia đă tham gia vào cuộc tập trận diễn ra hai năm một lần này.

Trong quá tŕnh tập trận, các nước đă diễn tập hoạt động bắn tên lửa và đánh ch́m 3 con tàu cũ đóng giả là tàu của kẻ thù. Các nước tham gia cùng với Mỹ trong cuộc tập trận được coi là cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới từ trước đến này gồm Australia, Canada, Chile, Colombia, Pháp, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Hà Lan, Peru, Singapore và Thái Lan. Liên quan đến Trung Quốc hơn là cuộc tập trận CARAT 2010 — Sẵn sàng hợp tác trên biển và huấn luyện Training — vừa diễn ra ở ngoài khơi Singapore. Cuộc tập trận này có sự tham gia của 17.000 binh lính và 73 tàu chiến đến từ Mỹ, Singapore, Bangladesh, Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippine và Thái Lan.

Cả hai cuộc tập trận quy mô lớn này đều không có sự tham gia của Trung Quốc mặc dù nó diễn ra ở những khu vực rất gần Trung Quốc. Đây hoàn toàn không phải là một sự sơ suất. Nhiều quốc gia ở khu vực Tây Thái B́nh Dương như Australia, Nhật Bản, Indonesia và Hàn Quốc, đang khuyến khích Mỹ can thiệp vào vấn đề này. Và quân đội Mỹ cũng tỏ ra quan ngại về lực lượng tên lửa ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc. Hiện Bắc Kinh đang triển khai hơn 1.000 tên lửa gần Eo biển Đài Loan. Sự xuất hiện của những chiếc tàu ngầm mang tên lửa tuần hành Tomahawk ở Thái B́nh Dương "là một phần nỗ lực lớn hơn của Mỹ nhằm củng cố năng lực ở khu vực. Động thái này phát đi một thông điệp rằng không ai có khả năng ngăn cản quyết tâm của Mỹ trong việc đóng vai tṛ là lực lượng cân bằng trong khu vực. Rất nhiều nước trong khu vực muốn chúng tôi làm như vậy,” ông Glaser cho biết. Chắc chắn là Bắc Kinh đă hiểu được thông điệp này.

 

Kiệt Linh - (theo The Time)

-------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ

B.Raman

09-08-2010

Năm nay đánh dấu kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hai nước đang tiến hành kỷ niệm Năm Hữu nghị Việt – Trung. Hồi tháng 11 năm ngoái, hai bên đă kư kết một số hiệp định về phân định ranh giới 1.300 km trên bộ và đồng ư bắt đầu các cuộc thảo luận, xây dựng các hướng dẫn để giải quyết các vấn đề chưa giải quyết, liên quan đến biển Đông.


Sau đó là các cuộc thảo luận thân mật trong cuộc họp của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung lần thứ tư, được tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 7 năm 2010. Theo một bản tin trên Tân Hoa xă, trong cuộc họp, hai nước đă đồng ư “giải quyết một cách thích đáng các vấn đề lănh hải ở biển Đông”. Theo hăng tin này, đây là một trong năm quyết định đạt được sự đồng thuận tại cuộc họp, do ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viên Trung Quốc đồng chủ tŕ, cùng với ông Phạm Gia Khiêm, phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.

 

Theo Tân Hoa xă, ông Khiêm tái khẳng định rằng Việt Nam đă sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để xử lư đúng đắn các vấn đề biển Đông theo quan điểm t́nh h́nh chung về quan hệ song phương và t́nh hữu nghị giữa nhân dân hai nước, cũng như sự cần thiết duy tŕ ổn định. Trong cuộc họp này, Trung Quốc và Việt Nam cũng đồng ư tiếp tục tăng cường trao đổi chính trị, tăng cường hợp tác kinh tế thương mại, tăng cường trao đổi văn hoá và tăng cường phối hợp các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực.

Ông Đới nói rằng, quan hệ song phương ở trong thời kỳ quyết định trong việc kế thừa quá khứ và hướng tới tương lai. Ông nói thêm: “Lịch sử 60 năm quan hệ song phương đă chứng minh rằng, việc phát triển t́nh hữu nghị Việt – Trung là v́ lợi ích căn bản của hai nước và hai dân tộc. Nó cũng có lợi cho ḥa b́nh và thịnh vượng trong khu vực”.

Ông Đới cũng nói thêm rằng, kể từ cuộc họp thứ ba của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác hồi năm ngoái, việc hợp tác trên thực tế giữa hai nước đă đạt được tiến bộ mới. Ông đă đề cập trong mối quan hệ này, trao đổi chính trị phát triển, hợp tác sản xuất mang lại lợi ích lẫn nhau, trao đổi văn hóa có hiệu quả, tiến triển trong việc giải quyết các vấn đề ranh giới, và phối hợp chặt chẽ hơn và hỗ trợ lẫn nhau về các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực. Ông nhấn mạnh rằng, v́ lợi ích của sự phát triển trong tương lai của quan hệ song phương, hai bên nên luôn luôn ghi nhớ t́nh h́nh chung và có một cái nh́n dài hạn trong khi duy tŕ t́nh hữu nghị láng giềng tốt. Ông kêu gọi hai bên học hỏi lẫn nhau để đạt được sự phát triển chung, và để gia tăng sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau và để đối phó các vấn đề một cách thích hợp, thông qua đàm phán một cách thân thiện. Ông nói them rằng: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Việt Nam để chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước từ vị trí chiến lược và sử dụng Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung như là một nền tảng để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện song phương”.

Ông Khiêm nói đó là lập trường không thay đổi của Đảng và Chính phủ Việt Nam, nhằm tiếp tục nâng cao quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, đó cũng là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Ông nói thêm: “Việt Nam luôn ghi nhớ sự hỗ trợ của Trung Quốc cũng như sự giúp đỡ cho cuộc cách mạng và xây dựng và cam kết phát triển t́nh hữu nghị lâu dài với Trung Quốc. Việt Nam sẵn sàng làm việc với Trung Quốc nâng cao sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau”.

Như vậy, cho đến tuần đầu tiên của tháng 7 năm 2010, quan hệ giữa hai nước vẫn thân mật, mặc dù luôn luôn có sự khác biệt về việc đ̣i chủ quyền của họ trên biển Đông và đă có những dấu hiệu cho thấy họ đă đồng ư để thảo luận về sự khác biệt trong một nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đôi bên cùng đồng ư, tương tự như các thỏa thuận của họ hồi năm ngoái về phân định biên giới trên bộ.

Mọi chuyện bắt đầu đi lệch giữa hai nước sau khi bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, mạnh mẽ nói đến vấn đề biển Đông tại cuộc họp của các Bộ trưởng Ngoại giao ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Hà Nội vào tuần thứ ba của tháng 7 năm 2010, và dự kiến Hoa Kỳ như là một bên liên quan trong việc bảo đảm quyền tự do đi lại. Trong khi Hoa Kỳ không đ̣i chủ quyền lănh thổ ở biển Đông, họ có lợi ích quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do đi lại của tàu bè và máy bay. Một kết luận rơ ràng từ sự can thiệp của bà [Clinton] đó là, Hoa Kỳ đă quyết định thách thức việc đ̣i chủ quyền của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền trên toàn bộ biển Đông.

Trung Quốc đă đ̣i chủ quyền như thế này trong vài năm và họ đă lặp lại sau cuộc họp ARF. Tân Hoa xă đăng tin như sau vào ngày 30 tháng 7 năm 2010: “Một quan chức Bộ Quốc pḥng Trung Quốc hôm thứ Sáu (ngày 30 tháng 7) cho biết, Trung Quốc có ‘chủ quyền không thể tranh căi’ trên các đảo ở biển Đông và vùng biển xung quanh. Phát ngôn viên Bộ Quốc pḥng, ông Cảnh Nhạn Sinh nói trong một cuộc họp báo rằng, Trung Quốc sẽ thúc đẩy việc giải quyết những khác biệt về biển Đông với ‘các nước có liên quan’ thông qua đối thoại và đàm phán, và phản đối việc quốc tế hóa vấn đề. Trung Quốc sẽ tôn trọng các quyền tự do của tàu bè và máy bay của ‘các quốc gia có liên quan’ đi qua biển Đông theo quy định của luật pháp quốc tế, ông Cảnh nói”.

9 . Đó là ư kiến về biển Đông như là vùng biển quốc gia mà Trung Quốc thực hiện chủ quyền lịch sử mà bà Clinton t́m cách thách thức một cách mạnh mẽ, Hoa Kỳ đă và đang thách thức việc đ̣i chủ quyền của Trung Quốc ngay cả trước đó, nhưng một cách kín đáo để không ảnh hưởng đến quan hệ song phương Mỹ - Trung. Hội nghị ARF tại Hà Nội đă đánh dấu một bước ngoặt trong các tuyên bố của Mỹ về chủ đề này. Bà Clinton đă đưa ra lập trường của Hoa Kỳ một cách công khai và mạnh mẽ về các vấn đề nêu ra bởi lập trường của Trung Quốc đối với biển Đông mà không c̣n lo ngại tác động của nó lên quan hệ Trung – Mỹ. Đó là, như thể Hoa Kỳ đă quyết định rằng thời cơ đă đến để nói thẳng lập trường của Hoa Kỳ trước công chúng thay v́ thể hiện mối nghi ngại với Bắc Kinh một cách kín đáo như họ đă làm trong quá khứ.

10. Điều ǵ đă gây ra sự thay đổi quan trọng trong lập trường của Hoa Kỳ? Phải chăng chính phủ của Tổng thống Barack Obama đă không hài ḷng về những ǵ họ cảm nhận khi quan điểm không hợp tác của Trung Quốc tại hội nghị khí hậu ở Copenhagen hồi cuối năm ngoái? Hay sự quan ngại của Washington qua việc Trung Quốc miễn cưỡng lên án Bắc Hàn trong việc tấn công tàu Nam Hàn hồi tháng 3 vừa qua? Hoặc là sự giận dữ của Washington v́ bị làm nhục khi Bắc Kinh từ chối chuyến viếng thăm đă thoả thuận của ông Robet Gates, Bộ trưởng Quốc pḥng Mỹ đến Bắc Kinh, để phản đối việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan? Hoặc là có bất kỳ thể hiện sự quan ngại kín đáo nào của một số thành viên ASEAN gửi tới Hoa Kỳ qua việc quyết đoán ngày càng gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông và qua những ǵ mà họ xem hai chuẩn mực khác nhau của Trung Quốc trong về vấn đề này.

Trung Quốc t́m cách ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của các nước như Việt Nam để khai thác trong khu vực và vùng biển mà họ đ̣i chủ quyền về dầu hỏa và khí đốt, rằng tất cả các vấn đề liên quan đến quyền thăm ḍ, quyền đánh cá v.v… nên để dành để giải quyết trong tương lai, trong khi chính Bắc Kinh đă không tuân theo thỏa thuận này về cả chữ lẫn ư. Thật khó có thể nói chính xác những ǵ gây ra sự can thiệp của Hoa Kỳ một cách mạnh mẽ, ủng hộ các nước ASEAN tại Hà Nội. Có thể đây là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố nói trên.

Theo báo Washington Post ngày 31 tháng 7 năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc đă nói với bà Hillary Clinton hồi tháng 5 năm 2010, trong một trao đổi căng thẳng trên khu vực mà Trung Quốc đă xem tuyên bố của ḿnh trên biển Đông là sự “quan tâm cốt lơi của quốc gia”. Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao không đưa vấn đề ra trước cuộc họp tại Hà Nội và dường như [Trung Quốc] nghĩ rằng Washington sẽ làm theo các mong muốn của Trung Quốc. Trung Quốc đă bất ngờ khi bà [Clinton] nêu ra vấn đề, mặc dù theo yêu cầu của Trung Quốc không nên làm như vậy tại cuộc họp ARF hôm 23 tháng 7 năm 2010.

 

Báo Wasington Post cho biết: “Hoa Kỳ tiếp tục vấn đề này dường như làm ngạc nhiên các lănh đạo Trung Quốc, mặc dù các quan chức Mỹ đă nói với Trung Quốc về vấn đề này hàng tháng. Các viên chức Hoa Kỳ và châu Á cho biết rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ là những nước dẫn đầu đưa ra phần nào các mối lo ngại rằng, lực lượng hải quân Trung Quốc ngày càng hiếu chiến trên biển, giữ tàu đánh cá và bắt các thủy thủ của các nước khác. Một số vụ nổ súng cũng đă xảy ra trong những tháng gần đây, các viên chức châu Á nói”.

Mức độ phiền toái của Hà Nội đối với Bắc Kinh là hiển nhiên, thực tế là họ đă áp dụng các biện pháp chắc chắn làm Bắc Kinh bực ḿnh khi tăng cường quan hệ với Mỹ. Có hai sự tiến triển có ư nghĩa đáng kể trong mối quan hệ này. Thứ nhất là báo cáo rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đang đàm phán thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, tương tự như thỏa thuận đă được kư kết giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ hồi tháng 7 năm 2005. Kế đến là chuyến viếng thăm, rơ ràng là với sự tán thành của Hà Nội, tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu USS Washington (*) đến vùng biển Việt Nam hôm 8 tháng 8 để đánh dấu kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trước đó, tàu này đă tham gia diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn Quốc ở biển Nhật Bản. Nó đă đến Hoàng Hải trong thời gian diễn tập, nhưng Hoa Kỳ đă quyết định thực hiện cuộc tập trận ở ngoài Hoàng Hải để đáp ứng các phản đối của Trung Quốc. Cùng lúc, Hoa Kỳ đă nói rơ ràng rằng, họ dành quyền được gửi tàu này đến Hoàng Hải, có thể trong tháng 9, như một phần trong cuộc diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn. Đối với Việt Nam đă nhận con tàu này, đó là quan tâm đến Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay riêng, là một bước đi táo bạo để nhấn mạnh sự phiền toái của họ với Bắc Kinh bằng cách t́m kiếm sự áp đặt nguyện vọng của ḿnh trên các nước ASEAN có các tuyên bố hợp pháp ở vùng biển Đông. Một số nhà phân tích Trung Quốc đă mô tả những dấu hiệu này của Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần với nhau hơn, như là gây bất ổn. Điều này đă không ngăn cản Việt Nam thực hiện các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, hôm 5 tháng 8 năm 2010, rằng các tàu Trung Quốc đă tiến hành thăm ḍ địa chấn từ cuối tháng 5, gần quần đảo Hoàng Sa. Bà cáo buộc Trung Quốc “vi phạm chủ quyền của Việt Nam và quyền chủ quyền trên biển Đông”. Trong lời đáp lại rơ ràng, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong một thông cáo báo chí đăng trên website của Bộ ngày 6 tháng 8 rằng, Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ lời b́nh luận và hành động nào vi phạm chủ quyền trên quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và vùng biển lân cận ở biển Đông. Bà nói thêm rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh căi đối với quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận”.

Ông Su Hao, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quản lư Xung đột và Chiến lược, thuộc Đại học Ngoại giao Trung Quốc, đă nói với “China Daily” rằng, luật pháp quốc tế và lịch sử đă cho Trung Quốc chủ quyền đối với khu vực. “Trung Quốc là nước đầu tiên đă phát hiện và đặt tên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và cũng là nước đầu tiên đă chính thức đặt các đảo ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) dưới một chính quyền. Thật ra, các tàu Trung Quốc đă và đang làm nghiên cứu ở khu vực Tây Sa (Hoàng Sa) trong một thời gian dài. Không phải là lần đầu tiên. Bây giờ Việt Nam đang thách thức hiện trạng, nhưng hoàn toàn không chứng cứ lịch sử và pháp lư hỗ trợ và các nhận xét của họ trùng hợp với quan điểm của Hoa Kỳ. Việt Nam đă cố ư đưa vấn đề biển Nam Trung Hoa, nhằm quốc tế hóa vấn đề, để nó có thể hành động như một đối trọng mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc, đă được Hoa Kỳ ủng hộ”.

 

Ông Xu Liping thuộc Học viện Khoa học Xă hội Trung Quốc đă tuyên bố rằng, Việt Nam chưa hề đặt ra bất kỳ câu hỏi nào về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao. Ông nói thêm: “Mỹ cần Việt Nam như một trong những công cụ của họ để đối trọng với sự phát triển của Trung Quốc, nhưng theo ư tôi, hai nước sẽ không xích lại quá gần nhau, mà họ chỉ lợi dụng lẫn nhau trong lúc này mà thôi”.

Phản ứng của Trung Quốc về những tiến triển trong quan hệ Việt - Mỹ cần theo được dơi chặt chẽ. Liệu cuối cùng họ sẽ tránh bất kỳ hành động nào chống lại Việt Nam và giảm sự quyết đoán của họ ở biển Đông? Hoặc họ sẽ gia tăng sự quyết đoán hơn nữa để dạy cho Việt Nam một bài học ngay cả khi có nguy cơ về một cuộc xung đột hải quân có thể có trong vùng biển giữa hai nước?

Tin tức về sự quyết đoán của Trung Quốc chống lại Việt Nam ở biển Đông trùng khớp với các tin tức về việc Trung Quốc tăng cường hơn nữa các nối kết cơ sở hạ tầng của họ với Tây Tạng để tăng cường khả năng vận chuyển nhanh Lực lượng Quân đội và Không quân. Một số dự án như xây dựng sân bay mới ở Tây Tạng và gia tăng khả năng vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt tới Tây Tạng đă được xúc tiến và t́m cách được thực hiện trước thời hạn. Tại sao lại vội vàng như thế này? Các hoạt động ngày càng tăng của các nhà xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Tạng cho thấy chính nó có sự chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự với Ấn Độ nếu họ quyết định đă đến lúc buộc Ấn Độ ngưng các dự án cơ sở hạ tầng tại Arunachal Pradesh, nơi Trung Quốc tuyên bố là miền Nam Tây Tạng.

Những sự phát triển liên quan đến quân sự của Trung Quốc có có liên quan đến mối quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ cần được quan sát kỹ hơn.

Tác giả là Bộ trưởng đă về hưu, thuộc Ban Thư kư Nội các của chính phủ Ấn Độ, New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai, ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc.

---------

(*) Tàu USS John McCain đến thăm Việt Nam hôm 10 tháng 8, không phải tàu USS George Washington.

Ngọc Thu dịch

Nguồn: http://www.srilankaguardian.org/2010/08/china-wake-up-call-for-vietnam-india.html

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Trung Cộng ít khi chịu ngồi vào đàm phán

Bách Lam / Viễn Đông (thực hiện)

Trung Cộng “ngán” nhất khi các nước đang phát triển hợp thành một khối

 

Sự phát triển của Trung Cộng về tiềm năng kinh tế, nhân lực, và chính trị đang đẩy nhanh Trung Cộng tới vai tṛ của một cường quốc, mở rộng sân chơi cho nước này trên chính trường thế giới. Đồng thời, Trung Cộng cũng không ngừng lấn áp các nước đang phát triển ở các lục địa từ châu Phi qua châu Á để trục lợi, bành trướng lănh thổ, lănh hải, nhằm khai thác tài nguyên bất kể những ảnh hưởng tai hại đến môi trường. Một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của sự bành trướng của Trung Cộng là Việt Nam, dưới sự lănh đạo nhu nhược của đảng cầm quyền Cộng sản. Nào là việc đắp đập ngăn ḍng sông Mê Kông đến kế hoạch khai thác quặng bauxite; rồi việc lấn chiếm lănh thổ, lănh hải, đến việc chia rẽ những nước láng giềng, Trung Cộng đều tích cực nhúng tay vào nhằm thực hiện mưu đồ bành trướng.



Trung Cộng thuê rừng núi Tây Bắc Việt Nam 50 năm để phá rừng trồng cây làm giấy (?!) – ảnh: Nguyên Thủy/Viễn Đông 

Nhân dịp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đến tham dự cuộc họp ASEAN vào cuối tháng 7-2010 vừa qua, đồng thời bày tỏ ư hướng sắp tới của Hoa Kỳ về chính sách ngoại giao trong khu vực Đông Nam Á, nhật báo Viễn Đông đă tham khảo ư kiến một số học giả chuyên về Trung Cộng, từ cái nh́n quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung và những quyền lợi xung khắc cũng như thuận hợp. Một trong những học giả đó là Tiến sĩ Elizabeth Economy thuộc Học viện Quan hệ Ngoại Giao (Council on Foreign Relations - CFR), trụ sở tại Washington D.C. CFR cũng là tổ chức nghiên cứu ấn hành tạp chí Foreign Affairs được giới chính khách, giới học giả, và độc giả quan tâm về ngoại giao chú ư từ nhiều thập niên qua. Ts. Economy đă dành cho Viễn Đông một buổi phỏng vấn ngày 5-8-2010.



Tiến sĩ Elizabeth Economy


Tiến sĩ Elizabeth Economy là một chuyên gia lâu năm về chính sách nội địa và ngoại giao của Trung Cộng, quan hệ Mỹ-Trung, và các vấn đề môi sinh trên thế giới. Ts. Economy hiện là nhà nghiên cứu C.V. Starr Senior Fellow và giám đốc chương tŕnh nghiên cứu Á châu. Ts. Economy đă viết nhiều chương sách, bài nghiên cứu, b́nh luận, và những bản phúc tŕnh, trong đó có quyển The River Runs Black: The Environmental Challenges to China’s Future (Ḍng sông đổi màu đen: Những thử thách môi sinh đối với tương lai Trung Quốc). Hiện tại, bà đang soạn thảo một cuốn sách mới về sự lớn mạnh của Trung Cộng và những chuyển biến về chiến lược, địa lư chính trị trong tương lai. Ts. Economy tốt nghiệp bằng tiến sĩ từ đại học University of Michigan. Bà thông thạo tiếng Hoa và nói được tiếng Nga.

Viễn Đông: Trong chuyến công du vừa qua của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, tham dự Hội nghị ASEAN tại Hà Nội vào cuối tháng 7-2010, bà Clinton đă nhắc tới việc Hoa Kỳ xem Biển Đông là một phần quyền lợi của Hoa Kỳ, điều này chắc hẳn đă làm cho nhà cầm quyền Trung Cộng “nhảy dựng”...
Tiến sĩ Elizabeth Economy: Không nghi ngờ ǵ nữa!

Viễn Đông: Tại sao vào thời điểm này, mà không phải là trước đây, Hoa Kỳ lại lên tiếng về vấn đề Biển Đông?
Ts. Economy: Từ khi Tổng thống Obama đắc cử, các nước trong khu vực Đông Nam Á liên tục nhờ chính phủ Hoa Kỳ (bắt đầu từ thời Bush) chú ư hơn một chút về các vấn đề trong khu vực. Khi TT Obama bắt đầu nhiệm kỳ, ông cho biết là có những hoạch định để tham gia nhiều hơn trong khu vực, và áp dụng những biện pháp đa phương trong các vấn đề ngoại giao toàn cầu nói chung. Đông Nam Á là một khu vực ông quan tâm một phần v́ lai lịch của ông. Việc NT Clinton đi công du kỳ này là một phần diễn tiến tự nhiên trong sự cam kết quan tâm dành cho khu vực.
Riêng về câu phát biểu của NT Clinton bày tỏ ước mong được giúp đạt đến một cách giải quyết ôn ḥa và nêu ra những lợi ích trong việc cố gắng giải quyết vấn đề một cách đa phương, tôi nghĩ đó là một sự phản hồi từ phía Hoa Kỳ đối với các quốc gia trong khu vực đang quan tâm về mối tranh chấp Biển Đông. V́ trong mối tranh chấp này, chúng ta có một bên là các nước nhỏ, và một bên là Trung Quốc khổng lồ, mạnh mẽ, ngày càng hung hăng trong việc khẳng định chủ quyền trên vùng biển này. Trung Quốc cũng đă từng lên tiếng rằng Biển Đông là một trong những quyền lợi ṇng cốt của họ. Và mặc dù gần đây họ có dịu đi một chút, điều đó cũng đă gióng một hồi chuông cảnh tỉnh cho các nước trong khu vực và, ở b́nh diện rộng hơn, Hoa Kỳ ở mức độ cần góp sức giải quyết vấn đề này.

Viễn Đông: Bà có nghĩ rằng sẽ nổ ra việc đụng độ quân sự mạnh mẽ hơn nếu Hoa Kỳ nhúng tay vào?
Ts. Economy: Chúng ta đă thấy có những cuộc đụng độ quân sự nhỏ giữa Trung Quốc và một số nước trong vùng cùng khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Nghĩa là, vùng này đă có xảy ra những sự việc có sử dụng quân sự. Tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ muốn có bất kỳ sự liên hệ về quân sự nào trong mối tranh chấp ở vùng này với Trung Quốc, và cũng không muốn đụng độ với Trung Quốc ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tôi cũng cho là không nước nào trong khu vực lại muốn thấy điều đó xảy ra. Điều rất cần phải có là việc nối lại đàm phán quân sự cấp cao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, và hội luận đa phương giữa Trung Quốc với các nước liên hệ. Đây thực sự là một thử thách v́ Hoa Kỳ đă vạch ra rất rơ ràng ước mong muốn nói chuyện với các viên chức quân sự của Trung Quốc, và đă thử nhiều lần. Nhưng phía Trung Quốc, từ lâu nay, vẫn xem những cuộc đàm phán này như một gánh nặng hơn là một cơ hội. Cho nên, cứ hở một chút, là họ hủy bỏ đàm phán. Tương tự như vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cũng chẳng hề mong muốn cùng ngồi xuống với Hoa Kỳ để thảo luận việc này.

Viễn Đông:
Đây cũng không phải lần đầu Trung Cộng có thái độ tránh né đàm phán. Thí dụ, ḍng sông Mê Kông đầu nguồn ở Trung Cộng chảy xuống khu vực hạ lưu qua nhiều nước. Từ khi Trung Cộng xây đập thủy điện, những nước ở hạ nguồn bị ảnh hưởng trực tiếp, nhưng Trung Cộng cũng chẳng thiết tha ǵ đến việc đàm phán đa phương để t́m cách giải quyết những vấn đề môi sinh của khu vực?
Ts. Economy: Trung Quốc muốn hợp tác với các nước dọc theo ḍng sông Mê Kông để phát triển đập thủy điện, nhưng Trung Quốc chưa bao giờ muốn ngồi xuống với các nước này để nói chuyện về hậu quả môi sinh gây ra do việc khai thác thủy điện ở thượng nguồn, và đương nhiên là họ có lư do trốn tránh. Việt Nam và Campuchia đều cho rằng những ǵ xảy ra ở thượng nguồn làm ảnh hưởng nặng nề đến nền nông nghiệp của họ ở hạ nguồn. Do đó, Trung Quốc né tối đa việc đàm phán này v́ họ biết sẽ bị nhiều áp lực của các nước chịu ảnh hưởng, buộc họ phải thay đổi cách khai thác tài nguyên của họ.
Không riêng ǵ sông Mê Kông, Trung Quốc cũng không chịu ngồi xuống thương lượng với Ấn Độ và các nước Trung Á khi những hoạt động của Trung Quốc ở vùng cao nguyên Tây Tạng ảnh hưởng đến những nước này. Hành vi này có thể gần như được xem là một chính sách của Trung Quốc. Trung Quốc giữ quyền kiểm soát trên những nguồn nước thuộc lănh thổ của họ, và họ ấn định chủ quyền trên những nguồn nước này. Do đó, câu hỏi căn bản là Trung Quốc nghĩ như thế nào về những nguồn nước trên lănh thổ của họ.



 

Biển Tây trong Vịnh Thái Lan giáp với Campuchia cũng là một nơi mà Trung Cộng nhắm tới cho ư đồ bành trướng. Do vậy, càng ngày Trung Cộng càng trở nên thân thiện với Campuchia bằng cách giúp đỡ nguồn tài trợ, nhằm chia rẽ Campuchia và Việt Nam – ảnh: David Nguyễn/Viễn Đông

Viễn Đông: Xem ra Trung Cộng khá là cao ngạo, chỉ chơi theo luật do ḿnh tự đặt ra, không cần đếm xỉa ǵ đến cộng đồng thế giới, và né tránh bất cứ cuộc thương thuyết nào?
Ts. Economy: Trung Quốc né ngay những cuộc đàm phán nào họ thấy không có lợi cho họ, khi họ thấy trong pḥng hội thảo chẳng có mấy nước chịu làm bạn với họ. Trung Quốc thường đưa ra luận điệu “cùng hợp tác, cùng thắng”, nhưng họ cũng nh́n thấy vấn đề, như ở sông Mê Kông, Trung Quốc là nước nắm giữ tất cả những lá bài tốt.
Chỉ có một chiến lược mà tôi cho là đă được chứng minh có hiệu quả đối với Trung Quốc: nếu tất cả các nước bị ảnh hưởng đoàn kết với nhau thành một khối và tạo áp lực công khai lên Trung Quốc, th́ mới buộc được Trung Quốc ngồi vào ṿng đàm phán. Ngoại giao theo kiểu “đóng cửa lại bảo nhau” chẳng có hiệu quả ǵ, mà phải là sự tập hợp lực lượng đa phương tập trung chĩa mũi dùi về phía Trung Quốc, làm cho họ xấu hổ, th́ mới được.
Trung Quốc dẫu sao cũng muốn cộng đồng thế giới nh́n ḿnh như một nước tham dự tích cực. Trung Quốc không muốn bị xem như một kẻ đứng ngoài, một loại “con ghẻ”. Tuy nhiên, chỉ khi nào cả thế giới lên tiếng mạnh mẽ về một vấn đề nào đó, như t́nh h́nh Sudan được phản ảnh lên Thế Vận Hội 2008, hay hiện tượng khí hậu toàn cầu đang thay đổi như được bàn thảo ở Copenhagen, chẳng hạn, th́ Trung Quốc buộc phải lắng nghe.
B́nh thường, Trung Quốc chẳng hề để tai tới những ǵ Hoa Kỳ nói, hay Liên Hiệp Âu Châu, hay Nhật Bản, về những ǵ Trung Quốc nên làm. Nhưng khi các nước đang phát triển hợp thành một mặt trận đoàn kết, bước tới và nói với Trung Quốc là họ có trách nhiệm hơn nữa, Trung Quốc sẽ bước lui và nói rằng họ sẽ không giành những nguồn trợ giúp của thế giới của các nước đang phát triển v́ có nhiều nước cần hơn họ, v.v.. Cho nên, tôi nghĩ có cách để thúc đẩy Trung Quốc cùng giải quyết một vấn đề, nhưng cần nhiều cố gắng từ tất cả các quốc gia liên hệ, nhiều thay đổi chính sách, để cùng nói lên tiếng nói mạnh mẽ cho những điều họ quan tâm.

Viễn Đông: Có phải Trung Cộng lùi bước khi các nước đang phát triển đồng loạt lên tiếng là v́ Trung Cộng muốn đóng vai “đàn anh”, bảo vệ các “em nhỏ”?
Ts. Economy: Từ lâu nay, Trung Quốc đă muốn đóng vai tṛ lănh đạo các nước đang phát triển. Nhưng họ không thể trở thành một nước lănh đạo khi các nước đang phát triển ồ ạt lên tiếng phản đối những hành vi của Trung Quốc. Đó là tại sao họ cảm thấy như cần phải có những phản hồi đối với những nước đang phát triển, nhưng chỉ khi nào những nước này cùng đoàn kết để đ̣i hỏi mà thôi.

Viễn Đông: Với chiều hướng ngoại giao của Trung Cộng như vậy, bà có nghĩ rằng một lúc nào đó trong tương lai, Trung Cộng sẽ lănh đạo khối các nước đang phát triển, tạo thành một trục thế lực mới, và những nước Âu Mỹ sẽ thuộc về một trục khác, như thời Chiến Tranh Lạnh?
Ts. Economy: Không, không hề. Bản đồ ngoại giao thế giới có thể thay đổi theo thời gian tùy theo những biến chuyển về quyền lợi của các nước, và đương nhiên là Trung Quốc sẽ ngày càng bành trướng vai tṛ của ḿnh trên chính trường thế giới. Chúng ta có thể quan sát được chiều hướng bành trướng của Trung Quốc về mặt quân sự, nhất là lực lượng hải quân. Chúng ta có thể theo dơi những viện nghiên cứu của Trung Quốc để biết những chi tiết về sự nới rộng này. Chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa, trong tương lai, chúng ta sẽ thấy Trung Quốc tích cực tham dự nhiều hơn vào cộng đồng thế giới, nhưng tôi không nh́n thấy điều này như là Trung Quốc và khối các nước phát triển ở một phe, c̣n phe kia là Hoa Kỳ, Liên Hiệp Âu Châu, v.v..
Cho tôi đặt lại câu hỏi này, Việt Nam sẽ thuộc về phe nào nếu có sự phân chia như vậy? (Cười). Mỗi quốc gia có những quyền lợi khác nhau và sẽ có ư kiến khác nhau về những vấn đề cần giải quyết. Ấn Độ và Trung Quốc sẽ có thể làm việc với nhau về hiện tượng thay đổi khí hậu, nhưng Ấn Độ và Trung Quốc đang rất căng thẳng v́ những tranh chấp nơi vùng biên giới, đem binh sĩ tới đồn trú ở ngay sát biên giới. Ấn Độ cũng lo ngại về những hành vi của Trung Quốc trên nguồn nước chảy xuống khu vực hạ lưu thuộc về Ấn Độ. Do vậy, chúng ta thấy có những vấn đề nóng bỏng, nảy lửa giữa Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng cũng có những vấn đề họ có thể cùng nhau giải quyết một cách hữu hiệu.
Nói tóm lại, chúng ta sẽ thấy nhiều biến chuyển trong những mối quan hệ ngoại giao giữa các nước và Trung Quốc dựa trên căn bản của từng vấn đề, chứ không phải việc thành lập một khối “NATO” do Trung Quốc cầm đầu. Nước nào sẽ ghi danh vào khối này? Hỏi thật đó, nước nào sẽ chịu theo vào khối? Bắc Hàn à? Hay Zimbabwe?   

Viễn Đông: Xin cám ơn Tiến sĩ Economy đă dành thời giờ cho buổi phỏng vấn này.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tổ quốc đang lâm nguy

Trong thời gian qua, những hành động của các bạn sinh viên từ Hà nội, Thanh Hóa, Ninh B́nh, Lạng Sơn, B́nh Dương, Thủ Đức, Sài G̣n…v.v… đă làm nức ḷng yêu nước của toàn dân, những tờ giấy được dán hoặc viết bằng nước sơn trên các bảng hiệu, trên những bức tường khắp thành phố với hàng chữ HS-TS-VN cùng với bản nhạc khẳng định HS-TS là của VN được phổ biến trên các trang mạng toàn cầu, chứng tỏ tinh thần yêu quê hương, đất nước của tuổi trẻ VN không bao giờ phai nhạt, cho dù chung quanh chúng ta c̣n rất nhiều những chông gai và trở ngại từ các cấp chính quyền, từ lực lượng công an chuyên theo dơi những việc làm yêu nước này của các bạn. Chúng tôi rất đau ḷng khi trong sử sách và các bản đồ của VN trước đây, 2 quần đảo HS-TS vẫn c̣n hiện diện trên giấy trắng mực đen, cũng như lâu lâu bà Phát ngôn viên BNG Nguyễn phương Nga vẫn c̣n tuyên bố trên các hệ thống truyền thanh, truyền h́nh là VN có đầy đủ chủ quyền trên các đảo HS-TS. Nhưng khi những hàng chữ HS-TS-VN được  viết lên để nhắc nhở và khẳng định cho mọi người dân biết rằng: HS-TS là những phần đất không thể tách rời khỏi đất nước th́ lực lương CA lại phá bỏ và theo dơi, ŕnh rập để bắt những ai thực hiện hành động này. Chúng tôi không hiểu và không sao hiểu nỗi những việc làm này của những người tự xưng là công an nhân dân?

 

Khi ngồi bên bàn phím để đánh lên những ḍng chữ này. Chúng tôi chỉ hy vọng rằng: dư âm oanh liệt và những tấm gương bất khuất v́ chính  nghĩa của những anh hùng dân tộc VN xưa lúc nào cũng vẫn c̣n đọng lại trong tâm trí của tuổi trẻ VN. Trong hoàn cảnh lâm nguy của Tổ quốc như hiện nay dưới sự ươn hèn và khiếp nhược trước kẻ thù TQ của các nhà lănh đạo VN. Chắc chắn hầu hết trong chúng ta làm sao quên được câu nói của Trần B́nh Trọng “ Thà làm quỉ nước Nam, c̣n hơn làm vương đất bắc”, hoặc lời khẳng khái “ Việt Nam muôn năm” trước khi bước lên đoạn đầu đài của 13 vị anh hùng trong đó có anh hùng Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đối với kẻ thù truyền kiếp phương bắc, những tấm gương anh dũng của tiền nhân ta không bút mực nào tả hết. Ngày nay, mặc dù các nhà lănh đạo CSVN đang thực hiện cái phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt trong t́nh hữu nghị do TQ đề ra, đây là cái ṿng kim cô để TQ thực hiện phương pháp mềm mộng xăm lăng VN sau này của họ, mặc dù vẫn c̣n những con người mang trên ḿnh màu áo CA nhân dân đang ŕnh rập, bắt bớ, vu cáo và chụp mũ để bắt giam những thành phần yêu nước, nhưng tất cả những thứ đó đều vô ích v́ nó sẽ không bao giờ dập tắt được lương tâm và ḷng yêu nước của toàn dân. Các nhà lănh đạo CSVN hiện nay không thể bắt tuổi trẻ VN, không thể bắt nhân dân VN quên HS-TS, quên Ải Nam Quan, quên thác Băn Giốc, quên băi Tục lăm, quên những vùng đất mà kẻ thù TQ đă ngang nhiên chiếm giữ trong cuộc chiến 1979 cũng như quên những h́nh h́nh ảnh mà hải quân TQ đă bắt bớ, đánh đập và đ̣i tiền chuộc đối với ngư phủ của chúng ta đánh cá trên vùng biển của chúng ta.

Nếu LS Lê Thị Công Nhân được tôn vinh là nữ lưu VN thế kỷ 21, th́ lời khẳng khái của chị Phạm Thanh Nghiên trước khi bị công an bắt trong lúc đang tọa kháng tại nhà với biểu ngữ HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM, đó là lời hiệu triệu bất khuất, là tiếng chuông vang măi trong ḷng của tuổi trẻ VN nói riêng và toàn dân tộc VN nói chung “ 50 năm đă trôi qua kể từ khi có công hàm ngày 14/9/1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng công nhận HS-TS là của TQ, nhưng chúng ta không thể quên v́ một phần thân thể của đất mẹ vẫn c̣n bị cắt đứt. Chúng ta không thể cúi đầu, v́ danh dự và tự hào của dân tộc vẫn là một vết nhục chưa được xóa nḥa. Chúng ta không thể im lặng, v́ im lặng là đồng ư với hành động bán nước. Chúng ta không thể buông xuôi, v́ mọi sự thờ ơ và buông xuôi sẽ dẫn đến những hành động bán nước tiếp diễn ở tương lai”. Hiện tại, tuy chị Phạm Thanh Nghiên vẫn c̣n đang chịu cực h́nh trong lao tù, nhưng những lời tuyên bố đầy hào hùng của chị đối với dân tộc, đối với Tổ quốc và đất nước sẽ là những bó đuốc soi sáng cho tuổi trẻ chúng ta trên con đường giữ nước và xây dựng quê hương.

Chúng ta không chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền, các nhân tài, các nhà trí thức yêu nước cũng không bao giờ chủ trương dùng bạo lực, nhưng họ đang bị chính quyền CSVN giam cầm với những tội danh áp đặt là phản động, là âm mưu lật đổ chính quyền, là do các thế lực nước ngoài xúi giục …v.v… với những bằng chứng mơ hồ không xác thực trong các phiên ṭa đă được định sẵn, điều này chứng tỏ rằng các nhà lănh đạo CSVN không tôn trọng sự thật và đang xa rời t́nh dân tộc. Tục ngữ VN có câu “ dân như nước, quan như thuyền, nếu thuyền không thuận theo ḍng nước th́ nước sẽ cuốn trôi nhận ch́m xuồng ở lại”. Chúng ta thử ôn lại lịch sử vàng son của dân tộc VN, chưa có triều đại nào lại ươn hèn, nhu nhược, cam tâm dâng đất, dâng biển cho ngoại bang như triều đại của ĐCSVN lănh đạo đất nước hôm nay. Thế giới ngày nay là thế giới của ḥa đồng, b́nh đẳng và cạnh tranh lành mạnh để cùng nhau phát triển. Một nền dân chủ đa nguyên sẽ là điều kiện tốt nhất để cho dân tộc được tiếp tục hồi sinh, đất nước được tiếp tục nhận những nhân tài và những tri thức lỗi lạc từ cộng đồng xă hội. Chế độ độc đảng sẽ dẫn đến độc tài, từ độc tài sẽ dẫn đến những bất công triền miên khiến cho dân tộc không ngóc đầu lên nổi bởi v́, quyền hành và sự giàu sang đều nằm trong bàn tay của một thiểu số người có quyền và có thế, c̣n đại bộ phận nhân dân tay trắng, chân mềm đều phải thua thiệt và khổ đau. CNCS với hệ thống XHCN đă viện dẫn tất cả những điều hay, ư đẹp để tuyên truyền trong nhân dân, nhưng thực tế th́ hoàn toàn ngược lại. Chính v́ thế mà cả hệ thống của XHCN ở Đông âu trong đó có Liên sô nơi phát sinh và lănh đạo cộng săn thế giới đă phải từ bỏ nó để trở về với nền dân chủ đa nguyên. Những nhà lănh đạo Nga và các nước Đông âu sau khi từ bỏ XHCN đều tuyên bố rằng: theo CNCS là sai lầm cho dân tộc.

 

Việt Nam đă là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an LHQ, cũng là thành viên của các công ước quốc tế, mà quy chế của LHQ và công ước quốc tế là dân chủ đa nguyên trong đó, con người đều b́nh đẳng và được hưởng mọi quyền tự do, nhân phẩm như nhau, tất cả đều được luật pháp bảo vệ công bằng không phân biệt giàu nghèo và thành phần giai cấp, quan có cái quyền của quan, c̣n dân có cái quyền của dân trong một nhà nước pháp quyền. Điều này cũng được chủ tịch HCM tuyên bố trước toàn dân trong bảng tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba đ́nh ( Hà nội ) ngày 2/9/1945 được trích ra từ hiến pháp của Hoa kỳ và của Pháp. Nhưng trên thực tế tại VN, các nhà lănh đạo đă v́ quyền lợi riêng mà d́m cả dân tộc và đất nước  vào con đường XHCN, tiếp tục hy sinh quyền lợi của dân tộc và đất nước cho kẻ thù TQ để giữ vững thế độc tôn cầm quyền mặc dù, điều 69 HP vẫn ghi là công dân có mọi quyền tự do phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Chắc chắn nhân dân VN nói chung và tuổi trẻ VN nói riêng sẽ không bao giờ chấp nhận một chính quyền thối nát như hiện nay. Tham nhũng tràn lan từ thượng tầng lănh đạo xuống hạ tầng cơ sỡ, những công tŕnh treo được dàn dựng một cách tinh vi để lấy đất của nhân dân với mức đền bù rẽ mạt, khiến cho hàng hàng lớp lớp dân oan đi khiếu kiện mỗi ngày càng dài thêm, những bằng cấp giả của các quan to được chi ra từ tiền đóng thuế của nhân dân để che đậy cho tầm nh́n dốt nát của ḿnh như trường hợp của Nguyễn Ngọc Ân (Phú Thọ), của Nguyễn Văn Ngọc (Yên Bái) và c̣n rất nhiều nữa, nếu công minh để kiểm tra lại th́ chúng tôi tin chắc rằng gần hết các bằng cấp của các quan cán bộ kể cả hàng lănh đạo đất nước đều là giả. Với cái cơ chế chỉ biết có quyền lực và sự trung thành tuyệt đối với ĐCS mà bỏ qua tri thức và nhân tài, đă là động lực cho các công ty và các tập đoàn quốc doanh nhà nước tự do tung hoành vô tội vạ tiền bạc xương máu của nhân dân để làm giàu bất chính, điển h́nh là các tập đoàn Than khoáng sản VN, Điện lực VN, Hàng không VN, PMU18, PCI, Vinashine,... Số tiền mà các công ty quốc doanh không khả năng thanh toán theo báo cáo ban đầu của Ủy ban thanh tra trung ương là 181 ngàn tỷ đồng, trong đó tập đoàn Vinashine do thủ tướng Nguyễn tấn Dũng thành lập năm 2005 là trên 80 ngàn tỷ, một số tiền nổi khổng lồ như thế, c̣n những khoảng tiền ch́m chưa bị lộ th́ không biết là bao nhiêu, đây là tiền vay từ nước ngoài. Thử hỏi trong một đất nước c̣n nằm trong danh sách nghèo của thế giới như VN th́ nhân dân sẽ trả nợ đến bao giờ mới hết.

Trong mấy năm qua, chính quyền mở rộng phong trào học tập và làm việc theo gương đạo đức của chủ tịch HCM. Nhưng rơ ràng càng tuyên truyền học đạo đức bao nhiêu th́ sự ăn chơi sa đọa của các thành phần đảng viên cao cấp càng tăng thêm bấy nhiêu, trường hợp chơi gái và dùng quyền lực cưỡng dâm nữ sinh của chủ tịch tỉnh Hà giang Nguyễn trường Tô và hiệu trưởng Sầm đức Xương là một điển h́nh. Càng đau ḷng hơn khi cho đến giờ này mà các em học sinh nạn nhân của các quan vẫn c̣n ở tù chưa được thả, có phải chăng v́ lời nói thẳng thắn của LS Trần Đ́nh Triển là c̣n rất nhiều Nguyễn trường Tô trong hàng lănh đạo của tỉnh Hà giang mà các em phải chịu kiếp tù đầy?. Cho đến giờ này, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, ủy ban bảo vệ trẻ em vị thành niên vẫn thản nhiên không lên tiếng bênh vực cho nỗi oan ức của các em. Chúng tôi hy vọng với sự can đảm của LS Triển và kiến nghị khẩn cấp cứu các em của Blogger Mẹ Nấm, sẽ được sự đồng t́nh của cộng đồng xă hội để các em thoát khỏi ṿng tay của bạo quyền đang bao quanh các em trong lao tù. Chắc chắn sẽ c̣n rất nhiều trường hợp như ở tỉnh Hà giang nữa mà chúng ta chưa biết.

Trở lại vấn đề mất c̣n của đất nước và chủ quyền của dân tộc, đây là nỗi đau mà tuổi trẻ VN cần phải khẳng định lại hướng đi trong niềm tin của ḿnh trước anh linh của tiến nhân để cho dân tộc VN có được một giang sơn h́nh chữ S như ngày nay. Hoàng Sa và những ḥn đảo chiến lược của Trường Sa, vùng biển vịnh Bắc bộ, Ải Nam quan, 2/3 thác băn Giốc, băi Tục lăm, cao điểm chiến lược 1509, 1250 (vùng đất mà TQ đă đổi thành Lăo sơn) nơi mà 3700 chiến sĩ QĐND vừa chết, bị thương và bị bắt làm tù binh được kẻ thù TQ chôn chung một hầm năm 1984, những phần lănh hải và lănh thổ thiêng liêng này của Tổ quốc VN sẽ măi măi là của VN, cho dù kẻ thù TQ có trưng ra bằng chứng là các công hàm hay các hiệp định, hiệp ước của các nhà lănh đạo CSVN đă kư nhượng cho họ. Nhân dân VN, tuổi trẻ VN quyết sẽ giành lại chủ quyền của ḿnh khi thời cơ cho phép dù phải trả bằng máu như tiền nhân của chúng ta đă hy sinh.

Đại dự án khai thác Bô xít mà TQ đang tàn phá Tây Nguyên (yết hầu của VN và cũng là nóc nhà của Đông dương theo sự nhận định của đại tướng Vơ nguyên Giáp), trên 300 ngàn hecta rừng chiến lược biên giới mà 18 quan đầu tỉnh đang cho TQ thuê 50 năm, 90% các công tŕnh trọng điểm của đất nước cũng được các công ty TQ trúng thầu, hàng hóa có chất độc của TQ hàng ngày vẫn ngang nhiên hiện diện trên thị trường VN…v.v….Đây là những bằng chứng rơ ràng để VN sẽ rơi vào tay TQ sau này, đây cũng là tài năng của các nhà lănh đạo CSVN hiện nay.

Thời cuộc đă và đang thay đổi, sự lên tiếng và dấng thân của các thành phần cấp tiến có tŕnh độ, có trí thức đầy ḷng yêu nước trong guồng máy chính quyền, từng kiến nghị và phê b́nh thẳng thắn của các hàng tướng lănh trong quân đội cho những việc làm sai lầm của các nhà lănh đạo đất nước, sự bức phá ngoạn mục bác dự án ĐSCT của QHVN vừa qua lần đầu tiên trong lịch sử đảng. Đây là những tín hiệu đáng mừng để cho đất nước VN, nhân dân VN được tiếp tục ngẫng cao đầu trong niềm tự hào của dân tộc. Tuổi trẻ là ước mơ, là tương lai, là rường cột của quốc gia, là tài săn vô giá của dân tộc….. Chúng tôi tin tưởng rằng tuổi trẻ VN sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Chúng tôi cũng nhận thấy: đa số tuổi trẻ VN từ học sinh, sinh viên cho đến ngoài xă hội đều có người thân trong gia đ́nh là cán bộ, là công an…. Các bạn phải vận dụng t́nh thương này để đấu tranh, vạch trần cho họ biết tất cả những sự đê hèn của chính quyền CSVN, để họ nhận ra được sự thật, để họ biết rằng chỉ có Tổ quốc, đất nước là trên hết nhất là những người trong lực lượng công an. Đồng thời phong trào viết HS-TS-VN vẫn được nhân rộng ra trên khắp miền đất nước.

Một chính quyền vô cảm trước nỗi khổ của nhân dân, khiếp nhược trước kẻ thù, làm giàu bất chánh trên mồ hôi nước mắt của nhân dân, tiêu cực và tham nhũng tràn lan hàng ngày không có hồi kết, mua quan bán chức, mua bằng cấp giả để cũng cố quyền lực….. Một chính quyền như thế sẽ là tai họa cho đất nước. Chúng ta phải biết rằng: trong một đội bóng đá, dù cho các cầu thủ có giỏi, nhưng mô h́nh và kế hoạch của huấn luyện viên dở th́ sẽ không bao giờ thắng đối phương. Trong một đất nước như VN, dù cho nhân dân VN có cần cù, chịu khó lao động và siêng năng học hỏi, có tinh thần phục vụ đất nước đến đâu đi nữa, nhưng với một guồng máy lănh đạo toàn là giả dối chỉ biết có quyền lợi cá nhân th́ làm sao giữ vững chủ quyền quốc gia và đem lại hạnh phúc cho toàn dân được.

Đă đến lúc đất nước cần phải có một hội nghị Diên Hồng trong tinh thần đại đoàn kết dân tộc, một cuộc trưng cầu dân ư trong hệ thống đa nguyên có tất cả các thành phần trong xă hội tham gia, có tự do ứng cử, bầu cử, có truyền thông ngôn luận trung thực…. để người dân chọn lựa đúng người có đủ tài đủ đức lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn thập tử nhất sanh này.

Hy vọng sự dấn thân của tuổi trẻ VN hôm nay, sẽ là những tấm gương sáng cho các thế hệ ở tương lai, cũng như sẽ đánh thức được lương tâm của những ai c̣n tuyệt đối trung thành với các đường lối và mệnh lệnh của các nhà lănh đạo CSVN trong giai đoạn cực kỳ nguy hiểm này của đất nước.

Sài G̣n ngày 16/8/2010  / Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail.com)

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Đi quá xa, Trung Quốc thu hút Mỹ vào tranh chấp Biển Đông

 

Tác giả: BARRY WAIN (Wall Street Journal)

 

Có lẽ do đi quá xa trong vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh đă thu hút Mỹ vào cuộc tranh chấp chủ quyền ở khu vực này.

Với cuộc tập trận bắn đạn thật tại Biển Đông, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đă gửi đi một tín hiệu rơ ràng rằng: Đúng như tuyên bố của người phát ngôn Bộ Quốc pḥng Trung Quốc Canh Diên Sinh, chủ quyền của Trung Quốc với biển và các đảo tại đây là "không thể tranh căi". Các tàu chiến từ cả ba hạm đội của Trung Quốc đều tham dự, cùng với máy bay chiến đấu, tên lửa tấn công mục tiêu tầm xa.

Cuộc tập trận đă vi phạm tinh thần mà Trung Quốc cam kết với những quốc gia láng giềng tám năm trước đây. Bắc Kinh đă cùng với Hiệp hội các nước Đông Nam Á đă kư Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông DOC trong đó nhấn mạnh không đe dọa hay sử dụng vũ lực ép buộc các nước tuyên bố chủ quyền, cam kết hợp tác xây dựng ḷng tin.

Tuy nhiên, cuối cùng, người ta đă rơ một điều rằng, thay vào đó, Bắc Kinh đă sử dụng thỏa thuận để lảng tránh vấn đề tranh chấp lănh thổ, đưa vấn đề ra khỏi chương tŕnh nghị sự khu vực trong khi tăng cường tuyên bố chủ quyền với hầu hết các đảo ở Biển Đông và vùng biển bao quanh.

Tức giận v́ Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton gần đây tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia" ở Biển Đông đồng thời kêu gọi xây dựng tiến tŕnh đa phương giải quyết tranh chấp chủ quyền các đảo, Bắc Kinh đă phô bày sức mạnh của ḿnh. Cùng với những cuộc tập trận quy mô lớn chưa từng thấy, báo chí địa phương đă có hàng loạt bài báo b́nh luận về tuyên bố chủ quyền quá mức của Trung Quốc.

Những cuộc phô diễn lực lượng của Trung Quốc có ư nghĩ truyền tải thông điệp rằng, Bắc Kinh cho là Washington không có quyền can dự ở Biển Đông, nơi Trung Quốc, Đài Loan và bốn quốc gia Đông Nam Á đều đưa ra tuyên bố chủ quyền. Nhưng, hành động của Trung Quốc dường như đă gây phản ứng tiêu cực trong khu vực. Phần lớn Đông Nam Á, đă ngày càng quan ngại về cách hành xử của Trung Quốc tại Biển Đông, coi động thái của Bắc Kinh gần đây là một ví dụ khác cho sự độc đoán.

Trong khi không mong chờ nhiều từ lời đề nghị của bà Clinton trong tổ chức đối thoại đa phương về tuyên bố chủ quyền đầy phức tạp, th́ triển vọng của một vai tṛ an ninh tích cực hơn từ Mỹ đă được đón nhận, hoan nghênh, đặc biệt với những quốc gia Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Trung Quốc và ASEAN đă cam kết thuân thủ luật pháp quốc tế, kiềm chế bất kỳ hành động nào có thể "làm phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới ḥa b́nh và ổn định".

Dù sao th́, với bản chất của một tài liệu chính trị, tuyên bố trên có nhiều lỗ hổng ví dụ như đă không đề cập phạm vi địa lư  rơ ràng, hay một số điều khoản khá mơ hồ.

Mục đích chính của tuyên bố (như các quan chức sau đó thừa nhận) là gửi một tín hiệu tới cộng đồng quốc tế rằng, Biển Đông không phải là "điểm nóng" khi Trung Quốc với ASEAN có quan hệ kinh tế ngày một gần gũi hơn. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, các cường quốc chính có lợi ích trong tự do hàng hải ở một vùng biển chiến lược như Biển Đông đă "lặng lẽ" ngồi bên lề, trong khi thương mại và đầu tư Trung Quốc - tăng vọt.

Tuy nhiên, trong vùng biển này, lời hứa tự kiềm chế bị phớt lờ. Trung Quốc đưa ra quan điểm cứng rắn hơn, gây hấn hơn về Biển Đông và bắt đầu tŕnh diễn sức mạnh của họ với xung quanh.

Căng thẳng gia tăng trong ba năm qua khi Bắc Kinh đe dọa các công ty dầu khí quốc tế đang hoạt động ở Biển Đông. Chiến dịch hiện đại hóa hải quân Trung Quốc được thực hiện ráo riết, nhiều vụ "quấy nhiễu" tàu Mỹ xảy ra, Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương và bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam.

Trong lúc đó, nhóm làm việc chung Trung Quốc - ASEAN cam kết khảo sát các biện pháp xây dựng ḷng tin, để dẫn tới việc thành lập một Bộ quy tắc ứng xử, lại chỉ gặp nhau có ba lần, và Bắc Kinh dường như không hứng thú đi xa hơn.

Trung Quốc chỉ trích mạnh mẽ, gần đây là trực tiếp nhằm vào Mỹ về chuyện "quốc tế hóa" tranh chấp Biển Đông. Bắc Kinh phủ nhận gây sức ép hoặc đe dọa tới ḥa b́nh khu vực bắt nguồn từ tuyên bố chủ quyền "quá mức", đồng thời cảnh báo chống lại chiến thuật siêu cường truyền thống được áp dụng để duy tŕ ưu thế ở một khu vực tranh chấp.

Nhưng Bắc Kinh đă nhận thức rơ ràng hơn rằng, khi Ngoại trưởng Mỹ đưa ra vấn đề Biển Đông tại một diễn đàn an ninh khu vực ở Hà Nội ngày 23/7, những nước khác đă cùng "chia sẻ" sự quan ngại. Đó là Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei cũng như Indonesia, EU, Australia và Nhật Bản.

Trung Quốc đă phạm phải một sai lầm chiến thuật bằng tuyên bố Biển Đông "là lợi ích cốt lơi" và rung chuông báo động các cường quốc châu Á - Thái B́nh Dương khác. Bằng việc đi quá xa, họ đă thu hút Mỹ vào cuộc tranh chấp. Chừng nào không khí căng thẳng hiện tại qua đi, Bắc Kinh sẽ phải suy nghĩ về cách ứng xử lại với ASEAN: Hoặc chừng mực hơn, hoặc đối mặt với nguy cơ đẩy các nước trong khu vực vào một liên minh thân cận hơn với Mỹ.

      Thụy Phương (Theo WSJ)

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE 

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 9

 

anhsangmoi2015.com

anhsangmoi2015.org

 

Cơ quan ngôn luận của ĐẢNG CÁCH MẠNG B̀NH XĂ VIỆT

Chủ trương và Biên tập :  Lư Nguyễn Thiên Quư  ( Huyên Chương Quư )

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------