ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP  12

www.anhsangmoi2015.com  

www.anhsangmoi2015.org  

-------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 

Việt Nam giữa cuộc xung đột Mỹ-Hoa
Thursday, August 26, 2010

 

 

Ngô Nhân Dụng

 

Trong nước Mỹ có hai phái, một bên là những người tin rằng không thể nào xẩy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc; bên kia nghĩ ngược lại.

Tiêu biểu cho phe thứ nhất là Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh Ṭa Bạch Ốc dưới thời Tổng Thống Carter. Năm 2005, trong một cuộc tranh luận về vấn đề này, Brzezinski chủ tŕ rằng chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc không thể nào xẩy ra. Lư do chính là khả năng quân sự của Trung Quốc c̣n rất yếu: 40 năm sau khi chế được bom nguyên tử, Trung Quốc mới chỉ có 24 hỏa tiễn đạn đạo để phóng đi, so với hơn ngàn hỏa tiễn của Mỹ, chưa kể các phi đạn phóng đi từ tầu ngầm có khả năng phóng vài ngàn bom, và vài ngàn bom khác sẵn sàng được B52, B-1, B-2 đem đi ném. Vũ khí nguyên tử chính là một yếu tố khiến các cường quốc không đánh nhau, v́ chiến tranh sẽ khiến hai bên đều bị hủy diệt. Cũng như trong thời chiến tranh lạnh Nga với Mỹ không thể đánh nhau được.

Nhưng lư luận chính của ông Brzezinski là Trung Quốc không thể gây chiến v́ chẳng có lợi ǵ nếu chiến tranh xẩy ra. Chiến tranh bùng nổ, dù chỉ trong phạm vi giới hạn, th́ tất cả ḍng tiếp liệu cho kinh tế Trung Quốc sẽ bị cắt. Bốn phần năm nhu cầu năng lượng của nước Tầu tùy thuộc con đường thủy đi qua eo biển Malacca nằm giữa Singapore và Indonesia. Eo biển này đang do hải quân Mỹ kiểm soát với sự thỏa thuận của các quốc gia trong vùng. Khi lâm chiến với Mỹ, cả nền kinh tế Trung Quốc sẽ bị ngưng trệ.

Người đối đáp với ông Brzezinski là Giáo Sư John Mearsheimer thuộc Đại Học Chicago, tiêu biểu cho khuynh hướng thứ hai, nghĩ là chiến tranh Mỹ Hoa có thể xẩy ra. Mearsheimer nhấn mạnh kinh nghiệm lịch sử, các quốc gia có thể gây chiến hoàn toàn v́ lư do chính trị, trái ngược với quyền lợi kinh tế của họ. Năm 1913, Anh Quốc là thị trường lớn nhất cho hàng xuất cảng của Đức. Ngoại thương chiếm vai tṛ quan trọng trong kinh tế các nước này, chiếm 52% tổng sản lượng nội địa của Anh, 38% của Đức và 54% của Pháp; ngoại thương giữa ba nước này đă tăng 65% trong 10 năm. Nhưng sau vụ ám sát Archduke Franz Ferdinand, súng đă nổ và kéo dài 4 năm.

Lư luận chính của Mearsheimer là: Các cường quốc đều t́m cách trở thành bá chủ. Nếu không có khả năng bá chủ thế giới th́ nước nào cũng muốn làm bá chủ một vùng, biến thành “sân sau” hay “ao nhà” của họ. T́nh tự dân tộc là động cơ chính trị mạnh nhất khiến cho các chính phủ khi gây chiến, dù họ theo chế độ dân chủ hay độc tài. Mearsheimer cho rằng trong ṿng 25 năm nữa, Trung Quốc sẽ phải chiếm lại Đài Loan. Mà muốn đạt mục tiêu đó th́ trước hết họ phải làm chủ cả miền Tây Thái B́nh Dương.

Trong thế kỷ 19, Tổng Thống Monroe nước Mỹ đă dùng lư luận tương tự để đẩy các cường quốc Âu Châu ra khỏi Châu Mỹ La Tinh. Thời 1930 Nhật Bản đă lư luận giống như vậy khi muốn đuổi các thế lực Âu Mỹ ra khỏi Châu Á và Trung Hoa, để Nhật làm bá chủ. Khi các người lănh đạo Trung Quốc thấy họ cần động viên ḷng ái quốc của dân chúng để tránh những vụ phản đối v́ kinh tế đi xuống và bất công xă hội th́ họ sẽ đưa ra “chủ thuyết Monroe” của chính họ. Do đó, Trung Quốc nhất thiết sẽ t́m cách đẩy Mỹ ra khỏi “ao nhà” của họ ở vùng Á Đông. Điều này không có nghĩa là họ muốn gây một cuộc Đại Chiến Thứ Ba. Nhưng muốn làm chủ cái “ao nhà” của họ, họ muốn gây một cuộc Đại Chiến Thứ Ba. Nhưng muốn làm chủ cái “ao nhà” của họ, họ sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến cục bộ. Trong lúc đó, Mỹ cũng như Nhật Bản, Nam Hàn và các nước Đông Nam Á như Việt Nam sẽ không thể chấp nhận cho Trung Quốc thực hiện ư định này. Cho nên, chiến tranh không tránh khỏi.

Zbigniew Brzezinski đă bác bỏ ư kiến trên. Ông hỏi nếu nước Mỹ rời bỏ vùng Á Đông, hoặc bị đẩy ra khỏi vùng này, th́ Nhật Bản có ngồi yên hay không? Nước Nhật sẽ tái vũ trang trước khi sự kiện đó xẩy ra. Nhật Bản dư sức chế tạo bom nguyên tử và hỏa tiễn phóng bom. Brzezinski chỉ nói đến nước Nhật, nhưng chúng ta biết c̣n các quốc gia khác nữa. Nam Hàn cũng dư sức chế bom hạt nhân, Đài Loan cũng vậy. Các quốc gia này đang bị cả Trung Quốc lẫn Mỹ “hợp tác ngầm với nhau” ngăn cản họ không được làm bom nguyên tử. Các nước này chấp nhận v́ họ đang được cái dù nguyên tử của Mỹ bảo vệ. Nhưng nếu đứng trước nguy cơ Trung Quốc đẩy Mỹ và cái dù của Mỹ ra khỏi vùng Á Đông, chắc chắn các nước trên sẽ phải lo tự vệ. Họ sẽ hành động ngay trước khi mối lo đó thành sự thật, ít nhất hàng chục năm trước.

Các người lănh đạo ở Bắc Kinh có muốn gây ra một cuộc chạy đua vũ trang tại các nước hàng xóm của họ hay không? Họ có muốn một nước Nhật Bản sôi sục lên v́ dân chúng lo bị Mỹ bỏ rơi cho Trung Cộng thao túng hay không? Nhật báo Yomiuri Shimbun ở Tokyo mới nhắc mọi người biết rằng 90% năng lượng dùng trong nước Nhật và hơn 60% thực phẩm dân Nhật ăn hàng ngày tùy thuộc vào đường biển. Không thể để một nước nào làm chủ con đường thủy lộ vào nước Nhật. Nhật có đủ lư do chính đáng để tăng cường hải quân, giữ ǵn mạch sống của dân ḿnh. Muốn bảo vệ lực lượng hải quân đó, không lực cần được phát triển, số hỏa tiễn phải nhiều hơn, vân vân. Khi c̣n nước Mỹ “bảo hộ” về quốc pḥng th́ Nhật c̣n phải giữ nguyên bản hiến pháp “ḥa b́nh,” không được phép tổ chức quân lực mà chỉ có lực lượng tự vệ thôi. Nhưng khi thấy “quốc gia lâm nguy” th́ dân Nhật sẽ thay đổi hiến pháp! V́ mối lo xa đó, năm ngoái chính phủ Nhật Bản đă đề nghị những buổi họp về hợp tác chiến lược với Ấn Độ; và mới họp với Việt Nam trong Tháng Bẩy vừa qua, cùng lúc đó chính phủ Mỹ cũng bầy tỏ thái độ cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh về an ninh vùng Biển Đông.

Giáo Sư John J. Mearsheimer cũng đồng ư là Trung Quốc sẽ không t́m cách chiếm lại Đài Loan trong mươi năm tới. Nhưng ông nghĩ rằng trong 25 năm th́ t́nh thế sẽ thay đổi hoàn toàn. Trung Quốc sẽ t́m cách trở thành cường quốc ở Tây Thái B́nh Dương trong khi Mỹ c̣n lo bảo vệ vị thế của ḿnh ở châu Mỹ, v́ khi đó các nước Brazil, Mexico, Argentina đều lớn mạnh hơn, trực tiếp cạnh tranh với Mỹ.

Sau khi nghe các lư luận của hai chiến lược gia nước Mỹ, chúng ta cũng không thể kết luận là cuối cùng có thể xẩy ra chiến tranh Mỹ-Hoa hay không, và nếu có th́ bao giờ xẩy ra. Nhưng dù họ có đánh nhau hay không th́ quyền lợi của nước Việt Nam sẽ không thay đổi.

Điều quan trọng nhất là Việt Nam phải bảo vệ được vùng hải phận giầu tài nguyên ở Biển Đông nước ta, ít nhất sẽ bảo vệ những ǵ c̣n lại sau khi nhiều ḥn đảo đă bị Trung Quốc chiếm đoạt. Muốn bảo vệ các đảo c̣n chưa bị chiếm, Việt Nam không những phải kết thân với các nước Đông Nam Á để quốc tế hóa vấn đề này; mà c̣n phải biết lợi dụng sự ḱnh chống giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ ở Á Đông. Khi nh́n thấy quyền lợi của hai phe đó chắc chắn sẽ xung khắc, Việt Nam không thể nào bỏ qua cơ hội không dùng mối xung đột đó làm đ̣n bẩy mà nước ta cần vận dụng, để bảo vệ quyền lợi của ḿnh. Có thể nói đây là một chiến lược lâu dài của nước ta, kể từ khi người Tây phương sang Á Châu. Các vua quan triều Nguyễn đă bỏ lỡ cơ hội, không biết dùng mối xung đột giữa các cường quốc để bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Cơ hội đó đă mất khi Pháp chiếm Việt Nam. Từ giữa thế kỷ 20 đến giờ, cơ hội lại xuất hiện nhiều lần nhưng đảng cộng sản Việt Nam đă bỏ qua; v́ lư do ư thức hệ họ nhất mực kết nghĩa anh em với các nước cộng sản và chống Mỹ đến cùng. Tuy nhiên một cơ hội mới nay đang lộ rơ ít nhất trong ṿng hai năm nay. Đó là khi Trung Quốc tiến thêm những bước mới, hung hăng mạnh bạo hơn trong cuộc cạnh tranh nhằm lấn chân Mỹ ở phía Đông Á Châu; và đă bị Mỹ phản ứng ngược lại.

Trong thế giới này, mỗi quốc gia vẫn t́m cách lấn chân quốc gia khác, đó không phải là chuyện lạ. Một nước nhỏ như nước ta phải nh́n thấy trước các vụ xung đột quốc tế và lợi dụng để bảo vệ quyền lợi của nước ḿnh. Trước năm 2008 chính phủ Mỹ vẫn chính thức coi Trung Quốc là “đối tác cạnh tranh và hợp tác.” Chính phủ Bush đă nghiêng về phía hợp tác v́ quá chú ư đến Trung Đông và muốn lôi kéo Trung Quốc trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Nhưng chính quyền Obama đă thay đổi; bắt đầu nhấn mạnh đến việc cạnh tranh hơn là hợp tác, sau khi Bắc Kinh đă thay đổi chính sách, trở nên hung hăng hơn trước. Khi Trung Quốc thấy Mỹ lúng túng trong hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, lại thấy hệ thống tài chính Mỹ bị khủng hoảng, th́ họ trở thành quá tự tin, đă nhân cơ hội mà lấn bước. Họ vẫn dè dặt lấn tới trong khu “ao nhà” của họ mà thôi, không dám có hành động khiêu khích ngoài vùng Á Đông.

Hành động lấn tới của Bắc Kinh biểu hiện rơ nhất từ năm nay. Trước đây, Trung Quốc vẫn gọi Tây Tạng và Đài Loan thuộc vào “quyền lợi cốt lơi” (hạch tâm quyền lợi) của họ. Đầu năm nay, họ mở rộng thêm, gọi vùng Nam Hải (vùng lưỡi ḅ gồm Biển Đông của nước ta và giữa các nước Đông Nam Á) cũng là vùng quyền lợi cốt lơi. Chúng ta biết người Trung Hoa coi Tây Tạng và Đài Loan là quyền lợi sinh tử, họ có thể huy động toàn dân quyết tâm bảo vệ hai vùng đó, đó là đất đai của nước Trung Hoa. Nay, chính phủ Bắc Kinh chính thức xếp hàng Biển Đông của nước ta vào loại này. Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh sẽ nuôi dưỡng và khích động t́nh tự dân chúng đối với các ḥn đảo trong vùng này; không khác ǵ họ vẫn làm đối với Đài Loan và Tây Tạng.

Cùng lúc đó, chính phủ Bắc Kinh cũng tấn công các nước Á và Phi Châu bằng tiền, nhất là các nước chính quyền tham nhũng dễ mua chuộc. Bắc Kinh dùng guồng máy “tư bản nhà nước” để xâm lăng kinh tế các nước này, tranh mua các tài nguyên. Trong khi đó các nước tư bản Tây phương vẫn tôn trọng cơ chế thị trường và hay đặt ra các điều kiện về tự do, nhân quyền khi giao thương. Trung Quốc đă bành trướng thế lực mà không cần gây chiến. Tướng Ma Xiaotian (Mă Hiểu Thiên), phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đă nói đến một chiến lược “không đánh mà thắng ở Á Châu.” Bắc Kinh cũng cho phép giới truyền thông trong nước động viên t́nh tự dân tộc, đưa ra những tín hiệu gây hấn. Trong một bài báo của Đại Tá Không Quân Đới Từ, ông đă buộc tội Mỹ đang thực hiện “chiến dịch bao vây Trung Quốc h́nh lưỡi liềm” “bóp cổ Trung Quốc nhẹ nhàng.” Ông nêu lên dữ kiện là các công ty Mỹ đang điều khiển 21 ngành công nghiệp trong tổng số 28 ngành ở Trung Quốc. Một đại tá khác là Lưu Minh Phúc thuộc Đại Học Quốc Pḥng Quốc Gia, trong cuốn sách của ông về “Giấc mơ Trung Quốc,” phát hành vào Tháng Ba năm 2010, đă yêu cầu Trung Quốc “bỏ đi ảo tưởng và chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đối đầu với Hoa Kỳ về việc thống trị toàn cầu trong thế kỷ 21.” Đó chỉ là những luận điệu tuyên truyền quốc nội, nhưng có thể chuẩn bị cho các hành động gây hấn sau này.

Các hành động gây hấn mới của Bắc Kinh đối với vùng Đông Nam Á đă gây nên một bước ngoặt quan trọng trong chính sách của Mỹ. Trước đây, Trung Quốc đă từng tranh chấp biên giới với Ấn Độ nhưng chưa bao giờ họ coi vùng giới tuyến đó là quyền lợi cốt lơi. Hiện nay, họ đang phát triển giao thương với các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan and Uzbekistan qua Tổ chức Thượng Hải, mở lại “Con đường Tơ Lụa” xưa, nay được thay bằng Con đường Dầu Khí. Nhưng họ cũng chưa hề gọi vùng biên thùy đó là quyền lợi cốt lơi. Cho nên, nước Mỹ phải nh́n thấy ngay một mối đe dọa mới ở Á Châu, đối với quyền lợi của Mỹ và đồng minh. Những phản ứng của chính phủ Mỹ từ giữa năm 2010 đến nay cho thấy họ bắt đầu phản công lại. Bởi v́ không biết lúc nào Bắc Kinh bắt đầu coi những vùng biển ngoài xa, xa hơn Nhật Bản và Phi Luật Tân cũng là “quyền lợi cốt lơi?”

Đứng trước một cuộc đối đầu không thể tránh được giữa Mỹ và Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm sao cho cán cân ảnh hưởng của cả hai nước quân b́nh với nhau trong nền ngoại giao của nước ḿnh. Một nước Việt Nam khôn ngoan sẽ không nghiêng về cường quốc nào hết trong mọi cuộc tranh chấp. Chỉ có như vậy mới bảo vệ quốc quyền lợi của tổ quốc.

Nhưng v́ trong quá khứ chính quyền Việt Nam đă quá thân thiết với Bắc Kinh, cho nên muốn lập được quân b́nh th́ bây giờ là lúc phải đặt thêm các mối quan hệ với Mỹ chặt chẽ hơn. Nước Việt Nam không nên tỏ ra muốn theo một nước nào để chống lại Trung Quốc. Nhưng phải lập một thế quân b́nh trong việc bang giao với các cường quốc, từ Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, vân vân. Đây là một lựa chọn không thể nào tránh được, nếu nước ta không muốn tiếp tục bị lệ thuộc măi vào nước láng giềng phương Bắc.

Một điểm tương đồng trong chính sách ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay là chủ trương “đa phương hóa” nếu không phải là quốc tế hóa các tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Mỹ đă chính thức đưa ra chủ trương này. Đối với chính phủ Bắc Kinh th́ họ chỉ muốn “chia để trị” các nước Đông Nam Á bằng những cuộc thương thuyết song phương, họ mạnh mẽ gạt bỏ chủ trương đa phương hóa.

Chính quyền Việt Nam cần phải tỏ ra cương quyết hơn trong vấn đề này. V́ đối phó với một nước láng giếng đă có hai ngàn năm lịch sử lúc nào cũng muốn lấn chiếm và đồng hóa dân tộc ḿnh, th́ chỉ c̣n cách là phải kết bạn với những cường quốc khác. Kết giao không phải để theo ai nhưng để lập lại thế quân b́nh. Đáng lẽ các chính quyền Việt Nam đều phải chọn giải pháp này từ hơn 60 năm trước.

Vào giữa thế kỷ 20 các cựu thuộc địa ở Á Châu mới giành được độc lập đều đứng trước hai lựa chọn chiến lược. Thứ nhất là phát triển đất nước theo mô thức kinh tế nào. Thứ hai là liên kết với những cường quốc nào trong một thế giới đầy tranh chấp. Đảng Cộng Sản Việt Nam đă chọn nhầm trong cả hai quyết định chiến lược đó. Họ chọn đường lối phát triển theo Liên Xô, sau phải xóa bỏ. Họ chọn liên kết với Nga và Trung Cộng, với kết quả bây giờ muốn đ̣i lại các đảo ở Hoàng Sa cũng há họng mắc quai.

Muốn xóa bỏ những lỗi lầm quá khứ, bây giờ là lúc phải làm lại từ đầu. Chính sách ngoại giao của nước ta không thể đặt trên nền tảng “huynh đệ” hay “đồng chí” mà phải hoàn toàn đặt trên quyền lợi quốc gia. Giống như trong việc thương mại, một quốc gia không thể coi nước nào khác là đồng chí hay là anh em. Mọi giao dịch chỉ lấy quyền lợi quốc gia làm tiêu chuẩn.

 

------------------------------------------------------------------------------  

 

 

Hăy Vững Tay Lái Khi Bẻ Ngoặt

 

Bùi Tín

 

Có những dấu hiệu cho thấy Bộ Chính trị đảng CS Việt Nam vừa có quyết định quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại, đó là khẳng định mạnh mẽ hơn chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc độc chiếm và một phần trên quần đảo Trường Sa, mà một bộ phận đă bị Trung Quốc chiếm đoạt; những người lănh đạo Việt Nam bác bỏ mạnh mẽ hơn lời khẳng định của Bắc Kinh là toàn bộ 2 quần đảo này và vùng biển Đông là thuộc về họ, hơn nữa, c̣n là "vùng quyền lợi cốt lơi" của họ.
Việt Nam cũng tỏ ra cứng rắn hơn khi khẳng định những tranh chấp trong vùng biển Đông cần giải quyết theo con đường thương lượng đa phương giữa những nước liên quan, bác bỏ con đường thương lượng tay đôi, theo sách lược “bẻ từng chiếc đũa”.
Trong khi đó, mối quan hệ Việt - Mỹ có những biểu hiện gần gũi hơn, thân thiện hơn, đặc biệt là về mặt chiến lược, về mặt quốc pḥng và an ninh.
Những biến chuyển nói trên đă làm cho chính giới Trung Quốc lo ngại, bất b́nh và một bộ phận hiếu chiến c̣n nổi cơn giận dữ xung thiên, với những lời lẽ quá đáng.
Bà Lư Hồng Mai, nhà b́nh luận chính trị của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh lu loa là Hoa Kỳ đang lôi kéo Nhật, Úc, Việt Nam và khối Đông Nam Á vào một NATO phương Đông nhằm chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc.
Tướng Lạc Nguyên thuộc Viện Nghiên cứu Quốc pḥng gọi chính sách mới của Hoa Kỳ ở biển Đông là “chính sách pháo hạm”, khẳng định Trung Quốc không tấn công trước (!) và sẽ trả đũa đích đáng nếu có ai đụng đến vùng quyền lợi cốt lơi của ḿnh.
Tướng hải quân Dương Nghị lên tiếng huênh hoang rằng Trung Quốc quyết không để uy tín của ḿnh bị tổn hại, Trung Quốc sẽ chống trả đích đáng và Washington sẽ phải trả giá.
Trên báo China Daily ở Hoa Nam c̣n có cả lời dọa là Trung Quốc cần sớm ngăn chặn Nam Triều Tiên và răn đe kịp thời Việt Nam, không thể để Hoa Kỳ lập ṿng bao vây Trung Quốc.
Học giả Sun Zhe, giám đốc trung tâm nghiên cứu quan hệ Trung - Mỹ của Đại học Thanh Hoa viết «Hoa Kỳ dùng bàn tay của Việt Nam để khuấy động bùn lầy vùng Đông Nam Á nhằm khiêu khích Trung Quốc»!
Chưa thấy báo chí Hà Nội, nhất là báo Nhân dân, báo Quân đội Nhân dân lên tiếng trả lời những tiếng nói kích động, đe doạ, cao ngạo đối với nước ta, nhất là những bài báo chính thức trên Nhân dân nhật báo Bắc Kinh là cơ quan ngôn luận của đảng CS Trung Quốc.
V́ sao vậy?
Vậy th́ việc xích lại thân thiện với Hoa Kỳ, việc đối thoại cấp cao về chiến lược - quốc pḥng giữa 2 nước là thật ḷng, thực sự, sau một cuộc xem xét tập thể nghiêm cách, hay chỉ là thủ đoạn chiến thuật, một tính toán nhất thời, một giải pháp t́nh thế, nhằm đối phó với sự bất ổn xă hội, do sự nhượng bộ quá đáng thế lực bành trướng, xúc phạm ḷng tự tôn dân tộc đúng vào các lễ kỷ niệm lớn, như Đại lễ Ngàn năm Thăng Long sắp đến gần?
Vậy th́ nhân dân ta hăy tham khảo những ư kiến của Luật sư Cù Huy Hà Vũ, với lời kết luận: “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại», nói rơ đó là con đường đúng đắn, cần thiết v́ phát triển bền vững, v́ an ninh của dân tộc, đang có cơ hội hiếm không thể bỏ qua; hăy t́m đọc bài luận văn vủa Tiến sỹ Bùi Quang Vơm “Công khai chính danh việc kết đồng minh với Mỹ», không phải chỉ v́ Mỹ giàu nhất, mạnh nhất, mà v́ Mỹ đàng hoàng, không hề có tham vọng ǵ về đất đai, tài nguyên đối với nước ta. Khi kết thân và có ḷng tin nhau, Mỹ cùng châu Âu, Úc, Nhật Bản - cũng đều là đồng minh vững chắc của Mỹ - tất cả sẽ là nguồn đầu tư, viện trợ, kiến thức, kinh nghiệm hùng hậu và vô giá cho nước ta. Nước ta sẽ bước vào thời kỳ phát triển cao hơn hẳn hiện tại.
Hăy nghe về phía Hoa Kỳ, những thông điệp làm phấn chấn nhân dân ta. Trong lễ kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ ngày 29-6-2010, đại sứ Mỹ Michael Michalak cho biết «Hoa Kỳ cam kết tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện với Việt Nam; chúng tôi tin rằng duy tŕ quan hệ quân sự mạnh mẽ giữa 2 nước sẽ đóng góp cho ḥa b́nh và ổn định của khu vực». Ông cho biết 15 năm qua, thương mại Mỹ - Việt tăng đến 3.300% ; năm qua Mỹ đă là chủ đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam, thương mại 2 chiều đạt US$ 13,4 tỷ. Ông cũng báo tin Bộ trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Robert Gates sẽ đến Việt Nam tham dự cuộc họp Bộ trưởng quốc pḥng các nước ĐNÁ mở rộng, và chuyến thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama cũng đang được chuẩn bị.
Thêm một tín hiệu mạnh nữa, ngoại trưởng Hillary Clinton cuối tháng 7 vừa qua khi dự họp tại Hà Nội đă triệu tập riêng 4 nước là Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam trong “Nhóm Sáng kiến về Hạ lưu sông Mêkông” thành lập do sáng kiến của Hoa Kỳ, để thảo luận về sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ cho 4 nước này nhằm đối phó với thay đổi khí hậu trong khu vực, đang bị ảnh hưởng bởi những đập lớn của Trung Quốc ở thượng nguồn.
Những tín hiệu công khai, mạnh mẽ khác của Hoa Kỳ là Lầu năm góc công khai tuyên bố trọng điểm chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đă chuyển từ Đại Tây Dương của thời Chiến tranh Lạnh sang Thái B́nh Dương, và 3 tàu ngầm nguyên tử là Michigan có bến đậu ở Pusan (Hàn quốc), Ohio có bến đậu ở vịnh Subic (Philippines) và Florida có bến đậu tại hải cảng Diego Gracia ở Ấn Độ Dương, mặc cho Bắc Kinh lu loa là đang bị bao vây, thách thức và không thể để yên. Báo Mỹ không dấu diếm là 3 tàu ngầm nói trên được trang bị tổng cộng 462 tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa này có thể bắn mục tiêu cách xa 1.500 kilômét một cách cực kỳ chính xác.
Cũng nên nhận rơ một biến chuyển rất mới và hệ trọng, đó là thái độ và lập trường của chính quyền Barak Obama thuộc đảng Dân chủ ngày càng rơ ràng đối với Trung Quốc. Nhiều người quan sát thời sự xưa nay cho rằng chính quyền của đảng Dân chủ Mỹ thường bị dư luận chung cho là không mạnh mẽ đối với chính sách bành trướng của Bắc Kinh trong khi đảng Cộng ḥa thường được coi là cứng rắn hơn. Thật ra không phải vậy.
Qua những sự kiện gần đây, chính quyền Obama c̣n tỏ ra có trách nhiệm hơn, sáng suốt hơn, nh́n xa trông rộng hơn các chính quyền tiền nhiệm.
Một số học giả Mỹ cho rằng các chính quyền trước đây ở Washington v́ muốn cô lập Liên Xô, ra sức tranh thủ Trung Quốc nên đă quá rộng lượng, nuông chiều, ve văn Đặng Tiểu B́nh, ồ ạt đầu tư, cung cấp kỹ thuật hiện đại cho Trung Quốc suốt từ 1980 cho đến 1989, giúp cho Trung Quốc phát triển mạnh để ngày nay thách thức Hoa Kỳ.
Nay chính quyền Barack Obama đă nh́n ra nguy cơ Trung Quốc; các chuyên gia trên Wall Street Journal và tạp chí Foreign Affairs gọi nguy cơ quốc tế đó là Chủ nghĩa Đế quốc Đại Hán tộc - Ta Han Empire, Ta Han Imperialism. Đảng Dân chủ nêu cao trách nhiệm ǵn giữ hoà b́nh, an ninh, chống bành trướng và chống khủng bố trên toàn thế giới. Hoa Kỳ ngày nay không coi Trung Quốc là một cường quốc có trách nhiệm, cùng chia sẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ để giữ ǵn ḥa b́nh và an ninh quốc tế. Hoa Kỳ ngày nay coi Trung Quốc là một đối trọng chiến lược cần cảnh giác và ngăn chặn thói cao ngạo, bành trướng với tham vọng bá chủ toàn cầu không che dấu.
Không ǵ rơ hơn là việc bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố mạnh mẽ trước các nhà lănh đạo Asean và quốc tế rằng biển Đông là vùng giao thông hàng hải quốc tế, quan hệ đến quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ và các nước khác. Tuyên bố này làm cho ngoại trưởng Trung Quốc bị bất ngờ, nổi giận, bỏ ra khỏi pḥng họp, để trở lại nói như kẻ mất trí, c̣n hướng vào đại diện Singapore để trút giận: Trung Quốc là nước lớn, nhà ngươi là nước nhỏ.
Ngay sau đó bà Clinton được ví như Henry Kissinger hồi 1971, trong cuộc đảo ngược liên minh, kết thân của chính quyền Nixon với Bắc Kinh để cô lập Liên Xô, c̣n nay là kết thân với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là với Việt Nam. Thông điệp của bà Clinton rất rơ: Hoa Kỳ có trách nhiệm trở lại châu Á, và trở lại đàng hoàng trên thế mạnh, với những bạn đồng minh đông.
Hoa Kỳ nhận ra rằng Trung Quốc cần một thời gian khoảng 15 đến 20 năm để phát triển đều đặn kinh tế với tốc độ cao (10-12% / năm), từ đó tăng cường quân sự. Đây là thời kỳ quá độ, với lời trăng trối của Đặng Tiểu B́nh là thu ḿnh lại, chớ gây gỗ, hăy nín thở qua sông. V́ nôn nóng, v́ kiêu ngạo, Bắc Kinh nay đă quên khuấy lời ông Đặng.
Bắc Kinh huênh hoang tuyên bố biển Đông là vùng quyền lợi cốt lơi, bố trí một ngh́n tên lửa hướng vào Đài Loan mà họ coi là đất Trung Hoa, là đồng bào Trung Hoa, để yên cho Bắc Triều Tiên bắn ch́m tàu Cheonan của Nam Triều Tiên, để cho B́nh Nhưỡng dọa dùng bom nguyên tử, để rồi cuối cùng vẫn phải nhận ngồi vào đàm phán 6 bên. Tất cả những điều trên đây chỉ bộc lộ thế cô, lực yếu ở châu Á, ở ngay Đông Nam Á, khi Hoa Kỳ đă kết liên minh chính trị - quân sự chặt chẽ với Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, c̣n thắt chặt liên minh quân sự với Philippines, Thái Lan, Indonesia… và đang ch́a tay bè bạn với Việt Nam, với việc nâng cao quan hệ chiến lược quốc pḥng - an ninh có lợi cho 2 nước.
Việc bẻ lái chiến lược của chính quyền Việt Nam trước t́nh h́nh mới, trong sự ch́a tay bè bạn đầy thiện chí của Hoa Kỳ vẫn chưa được biểu lộ rơ ràng, minh bạch.
Bộ Chính trị ở Hà Nội có nhất trí đồng thuận về một thay đổi liên minh rất mạnh dạn này hay không?  Họ có c̣n giữ phương châm 16 chữ vàng, coi Trung Quốc là «đồng chí tốt» nữa hay không?  Ngày 1 tháng 10 này – đúng ngày quốc khánh của Trung Quốc - vẫn khai mạc Đại lễ Kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long, gắn với Năm hữu nghị Việt – Trung?
Nếu thật sự là một cuộc bẻ lái chiến lược đầy bản lĩnh của lănh đạo và ắt mang lại hứng khởi trong đồng thuận cao độ của toàn dân, sao không thấy sự hứng khởi ấy bùng nổ khắp nơi trên đất nước ta, như lẽ ra là phải thế.
Hay là nhân dân ta c̣n hoài nghi, v́ thời gian «Bắc thuộc» -  theo ngôn từ của cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch -  kéo dài đến 20 năm, sự từ bỏ một mối liên minh sâu đậm không phải là dễ dàng êm dịu.
Xin nhớ rằng mỗi cuộc bẻ lái trên con đường gập gềnh trắc trở, đều không dễ dàng đơn giản. Sau khi nhận ra đường lối sáng sủa, hướng ra đại lộ của thế giới văn minh, người cầm lái phải tỉnh táo, tự tin, vững tâm bẻ ngoặt vào hướng đúng. Hoang mang, do dự, không quả đoán, không dứt khoát, ngập ngừng, run tay lái, có thể dẫn đến thảm họa, đưa cỗ xe vào băi lầy hay xuống vực.
Hay đây là một sự chỉ đạo khôn khéo, cao tay ấn, từ từ, nhẹ nhàng bẻ lái vào xa lộ văn minh, nhưng không ồn ào, lấy thực chất làm trọng, tránh những căng thẳng không cần thiết đối với nước lớn lắm mưu thâm và thù dai?
C̣n như nếu các nhà lănh đạo vẫn ỡm ờ, lo cho phe phái ḿnh hơn là lo cho dân, cho nước, chơi tṛ dại dột bắt cá 2 tay, một tay vẫn liên minh ma quỷ, một tay vẫn giả liên minh với bè bạn chân thành, tạm tránh búa ŕu của công luận, của đông đảo trí thức, của tướng lĩnh, binh sỹ, cựu chiến binh th́ hăy coi chừng, sự phẫn nộ của nhân dân và binh sỹ yêu nước bị dồn nén quá lâu,sẽ không có giới hạn khi bùng nổ.
Với thời gian mọi sự sẽ rơ ràng minh bạch. Cầu mong cho sự phán đoán tốt lành nhất là hiện thực hiển nhiên.
 

-------------------------------------------------------------------------------  

 

SỐ PHẬN TRUNG CỘNG TRƯỚC

MỘT CUỘC CHIẾN VỚI MỸ VÀ ĐỒNG MINH

Đinh Lâm Thanh 

 

       

        Thế giới đang lo ngại trước âm mưu bành trướng kinh tế cũng như quân sự của Trung cộng, nhưng theo thiển ư chúng tôi, kinh tế và quân sự của Trung cộng ở thời điểm nầy (2010) nh́n bên ngoài tuy đáng ngại cho tương lai trật tự cũng như hoà b́nh thế giới, nhưng đó chỉ là những thực tế thiếu căn bản và giả tạo, vượt ngoài khả năng, th́ có thể xem như một sức mạnh ảo. Tiềm lực đỏ của khối cộng hiện nay, điển h́nh là Trung quốc, chỉ là một trái bong bóng đă được thổi phồng lên nhằm trấp áp chư hầu đồng thời hù dọa thế giới.

        Nghiên cứu kỹ về khả năng kinh tế cũng như quân sự, chúng tôi nghĩ rằng Trung cộng cũng chỉ là một con hổ giấy, dễ dàng cháy thành tro trong một sớm một chiều khi đối đầu trước sức tấn công đồng loạt của khối tự do về hai mặt kinh tế lẫn quân sự. Do đó có thể hiểu rằng, Trung cộng đang thật sự lo sợ một cuộc chiến tranh xảy ra khi đối đầu với sức mạnh gấp hàng chục lần. Một điều cần ghi nhận thêm, thế giới đă thấy rơ âm mưu bá quyền của tập đoàn cộng sản Trung quốc th́ khối tự do nhất quyết phải ra tay nhổ tận gốc chế độ đầy tham vọng nầy hầu tránh cho nhân loại một ‘hậu họa da vàng trong lớp áo màu đỏ’.

        Để giải thích thiển ư nầy, thử xét qua tiềm lực quân sự, kinh tế cũng như chính trị để thấy những điểm ‘tử’ (chết) của Trung cộng và h́nh dung được hậu quả sẽ xảy ra một khi cuộc chiến thu gọn giữa hai khối tự do và công sản. Sở dĩ chúng tôi dùnh chữ thu gọn v́ nghĩ rằng, nếu có một cuộc chiến trong tương lai th́ các cường quốc Mỹ-Âu sẽ dàn xếp với Nga cũng như Khối Á Rập để chiến tranh có thể xảy ra giữa các cường quốc do Mỹ chủ động với Trung cộng và Bắc Hàn. Chúng tôi không nghĩ rằng đây là trận chiến thứ III theo như nhiều nhà tiên tri tiết lộ là do cộng sản Nga hoặc khối Á Rập gây nên, mà chỉ là một chiến tranh thu hẹp nhằm tiêu diệt mối họa cho thế giới đồng thời ổn định và đem lại ḥa b́nh cho khu vực Đông Á Châu mà trong đó Nga cũng như khối Á Rập đều có lợi.

       Từ nhiều năm qua, Mỹ đă chuẩn bị đánh Tàu bằng cách viện cớ can thiệp vào Iran (nguyên tử) cũng như khối Á Rập tại Đông Á (khủng bố) nhằm ngăn chận nguồn tiếp tế nhiên liệu, th́ nay Mỹ phải giải quyết càng sớm càng tốt để nhanh chóng dập tắt sự bành trướng của Trung cộng, v́ đây là thời điểm thuận lợi để giảm thiểu thiệt hại từ nhân lực đến vật lực. Nếu khối tự do chần chừ kéo dài thêm vài thập niên nữa, có lẽ hổ giấy Trung cộng sẽ thành hổ thật và lúc đó nếu xảy ra chiến tranh th́ ‘mười người chết bảy c̣n ba, chết hai c̣n một mới ra thái b́nh’. Theo một số nhà phân tích, trong ṿng một thập niên nữa nếu Trung cộng vẫn duy tŕ được đà phát triển như hiện nay mà Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước trong thời điểm nầy, th́ Mỹ sẽ mất vị thế cường quốc đứng đầu thế giới.

       Trong lúc Trung cộng đang điên đầu vấn đề biển Đông, tranh chấp quyền lực với Mỹ cũng như các xứ lân bang, đồng thời bị các thuộc địa nổi dậy đ̣i tự trị th́ Trung cộng sẽ vấp phải những sơ hở chính trị bởi thái độ hách dịch, ngoan cố, phô trương… để rồi xảy ra như hành động gây hấn quân sự, th́ đây là cơ hội tốt để khối tự do mở màn cho việc nổ súng dứt điểm mối hiểm họa thế giới. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu xảy ra chiến tranh với khối Âu-Mỹ trong thời điểm nầy th́ Trung cộng không phải là đối thủ cân xứng trước sức mạnh khổng lồ của khối tự do và cuộc chiến sẽ chấm dứt nhanh chóng khi trái bong bóng cộng sản bị x́ hơi. Dưới đây đề nghị xét qua các phương diện quân sự, kinh tế và chính trị của Trung cộng trong thời điểm nầy để có thể nghĩ rằng Trung cộng chỉ là một con cọp giấy !

       A. Lực lượng quân sự (Quân đội, Vũ khí và Chiến trường) :

      1. Ngày nay không c̣n chiến tranh quy ước như thời trước, hai bên dàn trận xáp chiến để chiếm từng ngọn đồi, từng vùng đất. Như vậy cả hai đối thủ không cần một đạo quân đông đảo để sắp hàng ra trận, th́ dù một nước có 1 tỷ 4 dân số với hàng trăm triệu quân lính cũng không thể nắm phần quyết định trên các chiến trường. Đó chưa kể đạo quân nầy đang bị cô lập cả bốn phía, ít kinh nghiệm chiến đấu và vũ khí c̣n kém quá xa so với Tây Phương. Hơn nữa chiến trường Trung cộng là một cái ‘rọ’ ngăn chận bởi các xứ tự do chung quanh với một vùng biển eo hẹp (biển Đông) mà Tây Phương cũng đang có mặt, th́ chiến trường trên không, dưới đất hay trong vùng biển nhỏ bé của Thái B́nh Dương cũng chỉ là những điểm tập trung cho các vũ khí nguyên tử từ không gian giáng xuống, từ các khu vực quân sự của Nhật Bản, Đại Hàn, Afghanistan, Ấn Độ, Phi luật Tân, Thái Lan và Việt Nam (?) cũng như các loại hỏa tiển tầm xa rót vào từ hải phận quốc tế. Vậy chiến trường của Trung cộng bị đóng khung trong ṿng vây của những đồng minh Á châu lân bang th́ cường quốc Âu-Mỹ rảnh tay hoành hành từ trên không trung đến các đại dương, từ chiến thuật cho đến tiếp vận. So sánh sức mạnh của hai đối thủ th́ Tàu cộng vẫn c̣n thua xa gấp cả chục lần với những vũ khí hiện đại của khối Âu-Mỹ. Một số máy bay, tàu ngầm, chiến hạm trang bị nguyên tử của Trung quốc không đủ khả năng để đối đầu với những máy bay tàng h́nh ném bom, các chiến cụ nguyên tử vừa mới xuất xưởng cũng như những hàng không mẫu hạm vô địch của hải quân Mỹ đang hướng mũi về lănh thổ Trung quốc. Lấy một ví dụ rất tầm thường để chứng minh rằng thông tin t́nh báo cũng như khả năng thăm ḍ qua vệ tinh của Trung quốc c̣n yếu kém, đó là trên 20 ngàn hỏa tiễn ‘cruise’ mang đầu đạn nguyên tử đă được khai triển ở các nước láng giềng và các tàu ngầm Ohio Class đă đến sát lănh hải, nhưng khi Trung quốc khám phá ra th́ các điểm chiến lược trên lănh thổ Tàu đă nằm trong tầm phóng hỏa tiễn của Mỹ.

       2. Chiến thuật thành công ở chiến trường của cộng sản từ trước đến nay là ồ ạt thí quân hoặc xử dụng du kích đánh lén. Pháp đă thua Việt cộng với lối tấn công biển người tại Điện Biên Phủ năm 1954. Mỹ th́ khốn đốn về du kích từ Việt Nam, Iraq cho đến Afghanistan. Nhưng nếu một cuộc chiến mới sẽ xảy ra, chắc chắn các chiến thuật xưa nầy không c̣n thích hợp, v́ bây giờ không cần những cuộc đổ bộ cũng như trận địa chiến xảy ra ngay trên vùng hải-lănh Trung cộng. Ai làm chủ vùng biển, ai làm chủ vùng trời và ai mạnh về vũ khí hiện đại th́ sẽ thắng dễ dàng với một bộ tham mưu đánh từ pḥng lạnh và bằng cách bấm nút điều khiển… Một khi đă khóa tay Trung cộng và làm chủ chiến trường bằng hỏa lực tầm xa, khối đồng minh với hàng trăm sư đoàn, được huấn luyện đầy đủ kinh nghiệm qua các chiến trương Iraq và Afghanistan sẽ được vận chuyển khẩn cấp để đáp ứng trật tự an ninh theo nhu cầu ‘hậu chiến trường’ của các thành phố và những vùng quan trọng. Đây là một điểm mạnh của Mỹ và đồng minh, so với Trung cộng là một đội quân thiếu kinh nghiệm chiến trường và chống đỡ bằng chiến thuật pḥng thủ cố định, tức là ở thế thủ của một quân đội mà từ xưa đến nay chỉ dùng để đánh bóng và bảo vệ chế độ.    

       3. Theo nhiều tài liệu quân sự, những nhà phân tích cho thấy khả năng quân sự (vũ khí) của Trung cộng c̣n kém xa dưới cả chục lần so với Tây phương. Trong đó đa số vũ khí tự sản xuất cũng như mua từ Liên sô cũ và của Nga hiện giờ. Với vũ khí do Liên sô sản xuất trước kia (tàu ngầm, hỏa tiễn, máy bay, giàn phóng nguyên tử….) dù chưa xử dụng, th́ khả năng và tầm hoạt động đă yếu mà c̣n ‘bị’ Tây phương thông suốt cấu trúc kỹ thuật th́ những loại vũ khí nầy chỉ đáng là đồ chơi so với các vũ khi hiện đại của thời nguyên tử bây giờ. Một số vũ khí do Trung cộng sản xuất hoặc mới mua sau nầy của Nga là những hàng vừa xuất xưởng, chưa có ‘kinh nghiệm’ chiến trường th́ sẽ trở thành những mồi ngon của hỏa lực phản pháo Tây Phương. Các loại hỏa tiễn tầm xa của Trung cộng khó bắn tới Washington hay Paris, mà nếu có phóng tới th́ cũng bị những phương tiện chống hỏa tiễn của Tây phương phá nổ ngay trên tuyến đường đi. Ngoài ra, lực lượng quân đội nhân dân dù có hàng trăm triệu lính với Aka, xe tăng, đại bác, giàn phóng cũng không thể làm một cuộc viễn chinh như thời Napoléon ngày trước. Lực lượng quân đội lớn lao nầy chỉ tập trung trên lănh thổ Trung  cộng th́ đây là mục tiêu cho các con mắt điện tử của hàng ngàn vệ tinh mang đầu đạn nguyên tử đang hướng về họ.

       4. Trung cộng là xứ tiêu thụ nhiên liệu quan trọng hàng đầu trên thế giới, nhưng Trung quốc không có mỏ dầu, phải nhập cảng từ các xứ Iran, Nga, Trung Phi cũng như Trung Mỹ.

 

 

 

        Dầu lửa là một phương tiện chiến lược quyết định sự tồn vong của Tàu cộng. Đây là yếu điểm (điểm tử) của một quốc gia đang phát triển mạnh về kỹ nghệ. Dù rằng Trung quốc có chuẩn bị dự trữ một số lượng nào đó nhưng một khi chiến tranh xảy ra, bị cô lập tất cả các nguồn tiếp tế th́ chế độ Tàu cộng cũng phải tan ră một cách nhanh chóng. Trước khi quyết định đánh  chế độ cộng sản Tàu, Mỹ đă chuẩn bị một chương tŕnh chận đứng nguồn cung cấp dầu lửa cho Trung quốc như Mỹ đă gây sự và tố cáo Iran vấn đề nguyên tử đồng thời đổ quân vào Afghanistan và phía Tây của Tàu cộng (truy lùng bọn khủng bố Bin Laden) để chận đường tiếp tế dầu lửa từ Nga chạy vào Trung cộng qua ngă Kazakhstan, Kirghizistan bằng đường ống…. Và một khi cuộc chiến bùng nổ, kế hoạch cấm vận sẽ bao vây toàn bộ nước Tàu th́ Tàu cộng dù ngoan cố cũng không thể cầm cự lâu ngày v́ vấn đề thiếu tiếp vận nhiên liệu. 

       B. Ảnh hưởng Chính Trị (Sự nổi dậy từ trong nước. Các chư hầu đ̣i tự trị. Ṿng vây của các nước trong khối tự do. Ảnh hưởng của các thế lực tài phiệt) :

       Trung cộng đă mất ảnh hưởng chính trị tốt đối với lân bang cũng như quốc tế qua mưu đồ xâm nhập từ hàng hóa đến thành phần lao động để lũng đoạn kinh tế và chính trị. Đối với Âu-Mỹ, sự xuất hiện từ hàng hóa đến việc xâm nhập nhân sự một cách ồ ạt là mối quan tâm cho chính quyền cũng như dân chúng của các quốc gia nầy. Ngay cả những xứ Phi Châu chậm phát triển, Trung quốc vừa xâm nhập thương trường địa phương nầy những loại thực phẩm và hàng công kỹ nghệ bị các cường quốc Âu Mỹ tẩy chay trả về v́ tính cách độc hại và thiếu an toàn, th́ Bắc Kinh cũng đă bắt tay thi hành thủ đoạn bóc lột sức lao động dân của những quốc gia nầy trong các công ty xí nghiệp do chúng vừa làm chủ. Từ đó người ta thật sự mới nhận ra nguy cơ của ‘dịch Tàu’ với mưu đồ thống trị thế giới, ngấm ngầm như một bệnh truyền nhiễm đang lan rộng và hăm dọa loài người.

      1. Đối nội, đảng cộng sản Tàu phải đương đầu với các phong trào chống đối. Sinh viên cũng như giới trí thức đă ra mặt xuống đường… biểu hiện qua biến cố Thiên An Môn cũng như tổ chức Pháp Luân Công với hàng trăm triệu hội viên… Sự chống đối của các thành phần đối lập và yêu nước tại Tàu cộng đă chứng tỏ cho thế giới biết rằng chế độ Bắc kinh dù có phô trương bằng h́nh thức nào đi nữa cũng không thể che giấu được t́nh trạng tập đoàn cầm quyền đă mất ḷng dân và đảng cộng sản Tàu đang trên đường thái hóa. Như vậy việc khối tự do đánh thẳng vào Tàu cũng là một hành động giúp người Trung Hoa thống nhất đất nước (Đài Loan), giải phóng cho dân tộc Nội Mông, Tây Tạng cũng như dân chúng đă bị nhuộm đỏ trong suốt chiều dài lịch sử.

           

 

     

        2. T́nh h́nh chính trị và địa thế chiến lược của Trung quốc là những điểm bất lợi cho một cuộc chiến đại quy mô sắp đến : Tại nội địa, Mongolie Intérieure, Xinjiang cũng như Tibet (Tây Tạng) đang đ̣i tự trị. Nếu chiến tranh xảy ra th́ đây là cơ hội tốt để các dân tộc bị trị nổi dậy giành độc lập. Nước Tàu lúc đó sẽ bị xâu xé, chia năm xẻ bảy bởi chiến tranh xảy ra, trái bong bóng đang căng sẽ x́ hơi và đâm đầu xuống tức khắc. Đối với bên ngoài, các quốc gia lân bang bao quanh nước Tàu đều nằm trong khối tự do. Phía Tây Nam : Các xứ Á Rập gồm những nước như Kazakhstan, Kirghizistan, Tadjikistan, đang nằm dưới trướng của Nga và chịu ảnh hưởng của Mỹ, Afghanistan hiện là điểm chiến lược của Mỹ và đồng minh. Vùng Á Rập Tây Á là đường chuyển vận dầu lửa từ Nga đang bị đồng minh kiểm soát. Cũng nên nói thêm rằng Mỹ đă thuê căn cứ Manas ở Kirghizistan (để chận đứng các ống dẫn dầu từ Nga) và đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Vénezuela để chận Vénézuela tiếp tế dầu cứu nguy cho Trung quốc). Phía Nam : Ấn Độ, một quốc gia cũng trên 1 tỷ người với tiềm năng vũ khí nguyên tử, là kẻ đang tranh chấp biên giới với Tàu cộng, quốc gia nầy không ngồi yên và chắc chắn sẽ vùng dậy tiếp tay đánh một đối thủ đáng sợ về nhân số, chính trị cũng nhu kinh tế. Từ Phía Đông xuống đến Đông Nam Á Châu là một thành tŕ chống cộng gồm Nhận Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Mă lai, Nam Dương, Thái Lan… Riêng đối với Việt Nam, ngay từ bây giờ, Hà Nội đang lưu manh đi nước đôi, vừa đội quan thầy Tàu cộng lên đầu vừa bắt tay với Mỹ, th́ một khi bộ chính trị trung ương ngửi thấy mùi chiến tranh, chắc chắn bọn chúng sẽ chạy theo kẻ mạnh để xin hai chữ b́nh an và lấy lại Hoàng Sa Trương Sa nhằm chuộc tội. Chung quanh Trung quốc là các quốc gia thuộc khối đồng minh, như vậy chiến trường chỉ c̣n thu gọn trong phạm vi nội địa và một phần biển Đông thuộc hải phận của Tàu… Khối tự do đă bao vây chiến trường kể cả chung quanh, trên không và vùng biển th́ nước Tàu là mục tiêu bị cô lập trong cái ‘rọ’ của các vũ khí và chiến cụ có tầm hoạt động đường xa. Đây là điểm yếu mà Bắc Kinh đă biết và lo sợ.

     

       3.  Các cường quốc Âu-Mỹ, đảng nào phe nhóm nào cầm quyền th́ đường lối và quyền lợi của họ cũng bị các thế lực tài phiệt chi phối không nhiều th́ ít. Mục tiêu của các nhóm nầy là dùng kinh-tế-thương-măi để làm giàu bằng cách phát triển chiến tranh, hay có thể hiểu ngược trở lại, tạo ra chiến tranh để giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến kinh-tế-thương-măi. Súng đạn, máy bay tàu chiến hay những phẩm vật mang lại tang thương chết chóc con người nhưng cũng chính là mục tiêu hàng hóa để làm giàu cho giới tài phiệt. Mới trong ṿng hơn một thập niên vừa qua, cũng nhờ phát triển kinh tế và chuẩn bị chiến tranh, Trung quốc đă xuất hiện thêm giai cấp mới, gọi là tài phiệt đỏ. Nhóm nầy dù xuất hiện sau nhưng phát triển một cách ‘thần thánh’, v́ chính các cấp lănh đạo đảng hoặc bà con ḍng họ của chúng đă dựa vào họng súng, kẽm gai, nhà tù để độc quyền bóc lột và trở thành những tên tỷ phú đỏ núp bóng dưới cái vơ ‘cộng sản bần cố nông’…. Chúng phát triển được là nhờ vào chế độ tư bản, nghĩa là bắt tay mở cửa thỏa hiệp với kẻ thù truyền kiếp qua con đường hợp tác đầu tư và xâm nhập thị trường quốc tế để từ đó phát triển kinh tế và quân sự nhằm thực hiện giấc mơ thống trị thiên hạ.. Sự kiện nầy chắc chắn sẽ gây trở ngại quyền bá chủ của các nhóm tài phiệt Tây phương, th́, Tây phương phải có thái độ và hành động đối với các nhóm tài phiệt đỏ nầy. Đây có thể là lư do để hiểu ngầm rằng các nhóm tài phiệt đă bật đèn xanh và ủng hộ chính quyền Mỹ gây chiến để tiêu diệt các nhóm tài phiệt đối lập mới. Chiến tranh cũng là mục tiêu tạo thêm nhu cầu chiến trường nhằm tiêu thụ các loại vũ khí mà các quốc gia đại tư bản Tây phương xem như phương tiện để làm giàu. Vậy một khi đă có kế hoạch th́ chắc chắn Mỹ sẽ đánh, và đánh th́ sẽ thắng chớp nhoáng, không cầm chừng cù cưa như tại Iraq cũng như Afghanistan.             

      C. T́nh trạng kinh tế (Thực chất nền kinh tế. Liên quan giữa Trung quốc và quốc tế. Hậu quả sau cuộc chiến)

      Chính hàng lậu, hàng giả mạo, hàng bắt chước  và nhất là sản phẩm độc hại cũng như thiếu an toàn do Tàu cộng ồ ạt phá giá, tung ra thị trường quốc tế – v́ lợi nhuận hay mục đích đầu độc nhân loại – th́ Trung quốc sẽ lănh hậu quả của một cuộc ‘chiến tranh trừng trị kinh tế’ có tính cách ‘hội đồng’ từ các nước tư bản. Và cũng v́ sự phát triển kinh tế từ ‘căn bản trên cát’ được chắp vá do đơn đặt hàng của khối tự do, th́ nền kinh tế Tàu cộng sẽ thảm bại một cách nhanh chóng khi tiếng súng khai hỏa. Đồng thời chiến tranh sẽ đưa đất nước rộng lớn với 1 tỷ 4 trăm triệu người trở thành tay không và quay lại đời sống nông nghiệp trước kia với h́nh ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau. Chúng tôi xin đưa ra vài h́nh ảnh để chứng minh :

      1. Hàng xuất cảng, nhất là toàn bộ thực phẩm, Tàu đă xử dụng những chất hóa học trợ lực hoặc xúc tác chứa một lượng độc tố vượt quá hàng chục lần so với mức ấn định của các cơ quan y tế quốc tế. Những chất độc nầy tuy không gây bệnh tức thời th́ cũng tích tụ trong cơ thể máu huyết và sẽ bộc phát vào một thời gian nào đó, lúc bấy giờ các nhà khoa học cũng đành bó tay trước các chứng nan y quái gở hoặc những bệnh ung thư vô phương cứu chữa. Tiếp đến, những hàng hóa tiêu dùng từ y phục đến đồ chơi trẻ em đều chứa một lượng hóa học có chất độc hại cao và thiếu an toàn cho người xử dụng mà trong những năm gần đây, các quốc gia văn minh Tây Phương từ chối nhập cảng th́ Tàu cộng đem ve văn bán giá rẽ cho các quốc gia nghèo chưa phát triển tại Phi Châu. Đây là một lối thương măi có hậu ư của Bắc Kinh, và trước sau ǵ Trung quốc cũng phải trả lời trước quốc tế về hành động tội ác nầy. Khi nói đến hàng mang nhăn hiệu ‘made in China’, cần phải phân thành hai loại hàng hóa.

   Sản phẩm nào do các đại công ty ngoại quốc đầu tư, có trách nhiệm, có kiểm soát trước khi tung ra thị trường th́ tạm thời có thể tin tưởng để tiêu dùng. Nhưng ngược lại từ hộp tăm xỉa răng, cuộn giấy đi cầu, các loại thực phẩm đến hàng tiêu dùng khác… do chính Trung quốc sản xuất và xuất cảng đều có tính cách lừa bịp, tráo trở, dùng nguyên liệu (matière première) giả, biến chế và sản xuất vô trách nhiệm, thiếu vệ sinh (bất chấp norme ISO) để giá thành phẩm trở nên rẻ mạt hầu cạnh tranh với các loại hàng hóa do khối tự do sản xuất. Chính hàng hóa của Trung quốc đă phá hoại và đảo lộn thị trường sản xuất cũng như tiêu dùng thế giới v́ hai lư do.

    Một, Tây Phương phải nhập hàng Trung cộng v́ các chính phủ nước ngoài bị ràng buộc có ẩn ư bởi các hợp đồng thương măi hai chiều để ghi công trạng và tŕnh diễn cán cân xuất nhập của quốc gia. Người ta ghi nhận Tàu cộng thường đặt các loại hàng thượng đẳng như máy bay, tàu chiến, thực phẩm, nguyên liệu, khoáng sản, thiết bị hiện đại và tuyệt đối không mua hàng hóa tiêu dùng b́nh dân sản xuất từ phía tự do. Ngược lại Trung quốc xuất vào các quốc gia Tây phương các loại thực phẩm biến chế và hàng hóa giả mạo, thiếu an toàn và thiếu chất lượng.

   Hai, số lượng hàng nhập đủ mọi ngành đang tràn ngập các cảng quốc tế, không đủ nhân viên quan thuế và vệ sinh để kiểm soát từng kiện hàng tráo trở một.

  Ba, các nhà nhập cảng nhận hối lộ, hưởng hoa hồng hay lợi nhuận cao (hối lộ là bí quyết thương măi của người Trung hoa).

  Bốn, giới tiêu thụ ham rẻ bất chấp lời khuyên của các cơ quan kiểm nghiệm về an toàn cũng như sức khỏe.

      Nếu một ngày nào đó thế giới ngưng tiêu thụ hàng của Trung cộng th́ Bắc Kinh chỉ c̣n nước thu hồi hàng hóa về và biến chế trở lại thành thực phẩm để chia đều cho dân chúng ăn dặm với cháo trắng hột vịt muối.  

      2. Căn bản của nền kinh tế thương măi Trung cộng dựa vào công nghiệp nhẹ, sản xuất theo đơn đặt hàng của các nhà đầu tư ngoại quốc hay chính do Trung quốc sản xuất hàng tiêu dùng để cung cấp một cách đại chúng đến giới tiêu thụ b́nh dân. Vào một siêu thị tại các khu vực của người Á Châu, người ta có thể bắt gặp đến 90 phần trăm hàng tiêu dùng hạ đẳng đều do Trung quốc sản xuất, và trong những khu vực dành cho người địa phương th́ bách phân nầy vẫn ở một mức độ vài chục phần trăm. Sở dĩ hàng hóa Trung quốc tràn ngập ồ ạt thị trường là do các hợp đồng đầu tư của các công ty nước ngoài cũng như hậu quả của việc giao thương hợp tác song phương giữa các quốc gia. Lư do giá thành phẩm thấp là v́ nhân công nội địa bị bóc lột, hàng tiêu dùng do chính Trung quốc sản xuất, xuất cảng được miễn thuế. Ngoài ra, Bắc Kinh ngoan cố phá giá đồng nhân dân tệ để xâm nhập hàng hoá dễ dàng vào các thị trường quốc tế.

    Từ khi nền công nghiệp nhẹ phát triển ồ ạt trên lănh thổ nước Tàu, người nông dân bỏ ruộng vườn dồn về các nhà máy thành phố. Nếu v́ lư do chiến tranh, các nhà đầu tư ngưng hoạt động rút đi hoặc không đặt hàng, không cung cấp nguyên liệu th́ tất cả cơ sở và nhà máy trở thành nghĩa địa, và nếu, các nước Tây Phương đồng loạt tẩy chay hàng Trung quốc th́ nước Tàu sẽ ra sao ? Một nền kinh tế dựa trên căn bản sức lao động con người và sản xuất hoàn toàn tùy thuộc vào mức tiêu thụ nước ngoài th́ sẽ sụp đổ tức khắc khi không có nhu cầu. Bắc Kinh phải giải quyết thế nào khi hàng triệu tấn hàng hóa bị từ chối trả về và hàng trăm triệu nhân công trong các cơ xưởng nhà máy không có công ăn việc làm ?  Đây là điểm ‘tử’ của một nền kinh tế xây trên lâu đài bằng cát mà Trung quốc thường tự hào và xem như đ̣n phép nặng kư để đe dọa thị trường quốc tế.

      3. Nhiều quốc gia Tây Phương đang đứng trước một lo ngại về kinh tế : Các nhà đầu tư bỏ xứ đi t́m thị trường nhân công rẻ, chuyển công nghệ, cơ sở và xây dựng nhà máy ở nước ngoài, nhất là Á châu, trong đó Trung quốc là một địa bàn thu hút đặc biệt các nhà đầu tư Tây phương. Hàng hóa sản xuất xong ở ngoại quốc được nhập trở lại tiêu thụ ngay trong nước so với hàng sản xuất tại chỗ th́ chiếm tỷ lệ nhỏ giọt thị trường, do đó một số hăng xưởng bắt buộc đóng cửa và nạn thất nghiệp càng ngày càng gia tăng. Việc các nhà đầu tư bỏ nước ra đi kéo theo nhiều lợi nhuận sản xuất đối với quốc gia sở tại cũng như quyền lợi thuế khóa lại rơi vào tay nước ngoài th́ các nhà có trách nhiệm kinh tế phải tính lại bài toán. Bài toán ở đây là đóng cửa rút cầu bằng giải pháp quân sự.

  Chiến tranh là giải pháp duy nhất để giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc, trong đó có phần xóa tên các nhóm tài phiệt mới và rút các nguồn đầu tư về tạo công ăn việc làm cho dân bản xứ. Công việc nầy không phải thuần túy quyết định của chính phủ và lănh đạo quân sự mà phần lớn do bàn tay của giới tài phiệt Mỹ cũng như Châu-Âu nhúng vào. Tài phiệt chỉ biết có quyền lợi, mà một khi quyền lợi không đạt được theo ư muốn hay bị tranh giành va chạm th́ họ phải nghĩ đến việc thay chiều đổi hướng. Giới tài phiệt Mỹ-Âu không thể kéo dài t́nh trạng hiện nay để xây bê tông cốt sắt cho nhóm tài phiệt đỏ phát xuất từ những tên bần cố nông, lợi dụng môi trường ‘đỏ’ để trở nên giàu có với đầy đủ quyền lực. Nếu không chặt tay chặt chân nhóm tài phiệt mới ngay bây giờ th́ trong vài chục năm nữa chúng sẽ thống trị thế giới. Đây là lư do một cuộc chiến sẽ phải xảy ra trong nay mai. Theo quan niệm của giới tài phiệt Mỹ-Âu th́ phải tiêu diệt mầm mống Trung quốc để gầy dựng lại những địa bàn mới vừa béo bở, vừa dễ bảo hơn như Ấn Độ, Đông Âu và Á Rập Bắc Phi.

      D. Những đ̣n phép mở màn cho cuộc chiến (Thay đổi hối xuất đồng Dollars. Tạo khủng hoảng kinh tế. Tăng thuế nhập tất cả hàng nhập của Trung quốc).

      Một khi dứt khoát tiến hành một cuộc chiến th́ phải chấp nhận bất cứ hành động ǵ có thể làm được để triệt hạ đối phương, không c̣n thắc mắc đến hiệp ước, hợp đồng kư kết hay phải quan tâm đến vấn đề nhân đạo, như vậy mới có thể mạnh tay để thắng trận.

      1. Dựa vào việc Bắc Kinh thao túng tiền tệ, Mỹ chỉ cần đánh thuế hàng nhập cảng của Trung quốc lên 30% trong ṿng một thời gian ngắn th́ Trung quốc sẽ bật ngửa ra chết v́ phá sản. Đây là một vấn đề mà bất cứ quốc gia tiêu thụ nào cũng có thể thực hiện trong các điều kiện theo luật định của chính sách ngoại thương, nhưng Bắc Kinh vẫn cao ngạo đối với  những ǵ họ đă kư kết. Trung quốc nghĩ rằng họ là khách hàng số 1 của Hoa Kỳ cũng như một số nước ở Châu-Âu th́ quyền của một người chủ nợ có thể ngang nhiên hành động và khinh thường con nợ. Nhưng trên chiến trường thương măi người ta có trăm phương ngàn kế kiếm khẻ hở của đối phương để vô hiệu hóa hợp đồng và quỵt nợ ! Buôn bán là nghề tay phải của người Tàu. Nhưng dù được hấp thụ bí quyết gia truyền ‘chạp phô’ th́ những bộ óc xuất thân từ thành phần bần cố nông cũng khó qua mặt được các tay tổ trong các tập đoàn tài phiệt Âu-Mỹ, nhất là những kế hoạch kinh tế dài hạn mà họ được đào tạo hàng chục năm trong các trường đại học chuyên nghiệp. Đây là điểm cao ngạo của những người cộng sản như chúng ta thường thấy trong đầu óc thành phần lănh đạo của Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam cũng như Trung Quốc.    

      2. Nợ không trả nổi th́ chỉ c̣n cách ‘xù’ và một khi các con nợ đồng loạt ‘xù’ chắc chắn chủ nợ trắng tay ! Nhưng không thể dễ dàng chạy trốn mà chỉ cần tạo ra chiến tranh th́ mọi chuyện đều không c̣n ǵ phải bận tâm để bàn đến nữa. Đây là bí quyết chạy làng một cách êm thấm, dù Mỹ hay quốc gia nào có trọng danh dự đến đâu th́ cũng không c̣n cách chọn lựa nào khác, v́ đây là hậu quả đương nhiên của… chiến tranh !

      3. Đồng dollar của Mỹ được xem như ‘khuôn vàng thước ngọc’ cho nhiều loại tiền khác trên thế giới, nhất là các xứ Ấ Châu và nói riêng là ‘nhân dân tệ’ Trung quốc. Tàu cộng với hàng ngàn tỷ dollars, chủ nợ số 1 của Mỹ bằng công khố phiếu th́ cũng tạm xem như Tàu đang giữ một nắm giấy lộn, v́ bàn tay ma giáo của Mỹ có thể tạo xáo trộn kinh tế, gây bất ổn chính trị để biến dollars từ vàng, xuống bạc, xuống đồng, rồi th́ ch́ hay đất sét (hoặc ngược lại). Như vậy số dollars khổng lồ trong tay Tàu cộng hôm nay có giá, nhưng ngày mai biến thành giấy lộn là một việc có thể xảy ra. Thay đổi hối xuất đồng dollars cũng là một đ̣n phép Mỹ thường xử dụng và một khi muốn đánh bại chủ nợ Tàu cộng th́ Mỹ chỉ cần dùng khổ nhục kế trong một thời gian ngắn th́ Trung quốc sẽ là xứ hàng đầu điêu đứng và sạt nghiệp kinh tế trước tiên.

      4. Ngoài ra, nếu Mỹ ngụy tạo khủng hoảng kinh tế quy mô một lần nữa th́ Tàu cộng cũng là nạn nhân chính, v́ Trung quốc là nước có liên hệ mật thiết kinh tế và thương măi với Mỹ. Kinh nghiệm cho biết cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, thị trường chứng khoán Trung quốc và Nga đă giảm giá trị xuống 4 lần (4 c̣n 1). Vậy khủng hoảng kinh tế trong tương lai sẽ đưa Tàu cộng đi về đâu ?

      Kết Luận

      Cộng sản xứ nào cũng vậy, xuất ḷ chung một thầy th́ tất cả đều giống nhau, nghĩa là khoác lác, to mồm, ĺ lợm, ngoan cố và hung hăng…. nhưng khi khối tự do nổi giận, ra tay kiếm cớ trừng trị th́ chúng rút vào ốc vỏ rồi… ra thông cáo phản đối như Bắc Hàn, Cuba, Việt Nam trước đây và Tàu cộng trong mấy ngày vừa qua. Nếu lần nầy Mỹ và khối đồng minh bắt tay đánh ‘hội đồng’, Trung quốc sẽ lộ mặt thật là con hổ giấy th́ các cộng sản đàn em hết nơi nương tựa và tự động cuốn gói từ bỏ cái thiên đường xă hội chủ nghĩa ưu việt của chúng.

       

 Đinh Lâm Thanh
 
Mùa Hè 2010

--------------------------------------------------------------------------------------  

 

Hải Ngoại, ngày 15/08/2010

Lời Kêu Gọi Tẩy Chay mừng quốc khánh

nước Cộng ḥa nhân dân Trung hoa ngày 1 tháng 10 Năm 2010

dưới tiêu đề "Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội"

 

Thành Thăng-Long được Đức Vua Lư Thái Tổ thành lập vào tháng 7 năm Canh Tuất (1010), đến nay đă được 1000 (một ngàn) năm.

Sự tích này ghi trong:

1/ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư - Bản Kỷ - Quyển II (tr 81)

... Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 [1010], (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 3)... Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long.

2/ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Chính Biên - Quyển II - trang 106

Tháng 7, mùa thu, dời kinh đô đến thành Thăng Long... Nhà vua bằng ḷng lắm, mới từ Hoa Lư dời kinh đô đến Đại La thành. Thuyền ngự đến bên thành, có con rồng hiện ra. Nhà vua sai đổi tên là thành Thăng Long.

3/ Việt Nam  Sử Lược của Trần Trọng Kim - Chương IV - Nhà Lư trang 39

Thái-tổ thấy đất Hoa-lư chật hẹp không có thể mở-mang ra làm chỗ đô-hội được, bèn định dời đô về La thành. Tháng 7 năm Thuận-thiên nguyên-niên (1010), th́ khởi sự dời đô. Khi ra đến La-thành, Thái-tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng hiện ra, bèn đổi Đại-la thành là Thăng-long thành, tức là thành Hà-nội bây giờ. Cải Hoa-lư làm trường-an phủ và Cổ-pháp làm Thiên-đức phủ.

4/ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam Tập 2 của Lê Mạnh Thát - Chương X - Vạn Hạnh Và Việc Dời Đô Về Thăng Long - Trang 596

"Sau khi lên ngôi, một trong những việc đầu tiên mà Lư Thái Tổ làm, là dời đô về Thăng Long vào mùa Thu tháng 7 năm Canh Tuất (1010)".

Như vậy, tháng 7 mùa thu năm 1010 đến tháng 7 mùa thu năm 2010, thành Thăng-Long xưa, tên gọi Hà Nội ngày nay thành lập được 1000 năm. Nếu tính theo dương lịch năm 2010, th́ tháng 7 mùa thu bắt đầu vào ngày 10/08/2010 dương lịch. Do đó đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội phải là ngày 10/08/2010 chứ không phải 1/10/2010 như Nguyễn Sinh Hùng Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đă ấn định.

Ngày 1/10 là ngày quốc khánh của nước Cộng ḥa Nhân dân Trung hoa, và ngày 10/10 là ngày quốc khánh của nước Cộng ḥa Trung hoa Dân quốc (Đài Loan). Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn ngày 1/10/2010 làm Đại lễ khai mạc kỷ niệm ngàn năm Thăng-Long Hà Nội là một sự tính toán kỹ lưỡng nhằm hợp thức hóa t́nh trạng Tầu cộng đô hộ Việt Nam. Và kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam (theo VNExpress) xấp xỉ khoảng 4,5 tỷ Mỹ kim (1 tỷ Đồng # 50.000 $).

Đây là hành vi vừa phí phạm tài sản quốc gia, vừa xuyên tạc lịch sử, cũng như bôi nhọ công đức của tổ tiên đă dầy công dựng nước và giữ nước, thật là một sỉ nhục cho người Việt Nam đi mừng quốc khánh của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc và đó là điều không thể chấp nhận được.

Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử cực lực phản đối hành động nêu trên, đồng thời thiết tha kêu gọi người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, c̣n quan tâm đến lịch sử nước nhà, hăy đồng loạt phản đối, tẩy chay quyết định chọn ngày 1/10/2010 là ngày khai mạc đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

Chúng tôi đề nghị:

1/ Hăy đồng loạt kiến nghị thư đến văn pḥng của Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng cộng sản Việt Nam cũng như Nguyễn Sinh Hùng phó thủ tướng thường trực kiêm trưởng ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đ̣i hỏi ngưng ngay dự án mừng ngày quốc khánh nước Cộng ḥa nhân dân Trung hoa 1/10/2010 dưới tiêu đề " Đại lễ khai mạc kỷ niệm ngàn năm Thăng-Long Hà Nội"

2/ Phổ biến khắp nơi lời kêu gọi tẩy chay này bằng nhiều h́nh thức như ghi hàng chữ No china 1/10/2010; Tẩy chay 1/10/2010..

3/ Biểu t́nh tại gia, không tham dự ngày 1/10/2010; các cửa hàng, người bán lẽ đ́nh chỉ buôn bán ngày 1/10/2010; các phương tiện giao thông công cộng không chuyển bánh ngày 1/10/2010; các trường tiểu, trung, đại học không mở cửa, cũng như học sinh, sinh viên, không đến trường ngày 1/10/2010. Đây chỉ là gợi ư, tại chỗ mọi người dân có thể linh động thực hiện việc phản đối.

4/ Các cơ quan công quyền đồng loạt treo cờ rũ (nghĩa là cờ chỉ kéo lên phân nửa). Đây là nói lên ư nghĩa Việt Nam đă bị Tầu cộng đô hộ một cách chính thức qua đảng Cộng sản Việt Nam.

5/ Các đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam cộng sản cũng như công an nhân dân, không tham dự diễn binh, diễn hành ngày 1/10/2010; cũng như từ chối làm công tác an ninh trật tự. Có làm được như vậy mới thực sự là quân đội, công an của nhân dân.

6/ Những thành phần dân chúng khác mang khăn trắng trên đầu, để tang cho Việt Nam trở thành quận huyện của Tầu cộng phương Bắc. 

Chúng ta hăy cùng nhau quyết liệt tẩy chay ngày 1/10/2010. Đừng để cho anh linh tổ tiên bị sỉ nhục và lịch sử Việt Nam bị hoan ố thêm nữa.

Hăy Quyết Liệt Tẩy Chay Ngày 1/10/2010 

Trân trọng

Nguyễn Việt Phúc Lộc (Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu)

Lời Kêu Gọi Tẩy Chay đă được đăng tải trên các trang

 http://www.truclamyentu.info/, http://www.quansuvn.info/    

------------------------------------------------------------------------------------ 

 

 Tranh chấp Mỹ Trung

 một cảnh giác cho ḷng yêu nước

Trần Trung Đạo

 

Tại Diễn đàn Khu vực về Hợp tác an ninh ở châu Á tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy, 2010, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố: “Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, có quyền lợi quốc gia về tự do hàng hải, mở cửa những thủy lộ chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Hoa Kỳ chia sẻ quyền lợi này chẳng những với các quốc gia thành viên ASEAN hoặc các quốc gia tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN; mà c̣n với các quốc gia có nhu cầu về hàng hải khác và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn”. Ngoài ra bà cũng tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc quốc tế hóa cuộc tranh chấp hải phận và giải quyết tranh chấp trên cơ sở công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển và “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào xử dụng vũ lực”. Mặc dù Ngoại Trưởng Clinton xác định vai tṛ trung lập của Hoa Kỳ, những lời tuyên bố của bà rơ ràng nhằm bênh vực các nước nhỏ trong vùng, nhất là Viêt Nam. Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Tŕ giận dữ phản ứng: “Nhận xét của bà Clinton có vẻ như thực sự nhằm mục đích tấn công Trung Quốc bằng cách tạo ra một ảo ảnh rằng t́nh h́nh Biển Đông là đáng báo động”. Theo b́nh luận của báo New York Times, đây là “một chiến thắng đầy ư nghĩa đối với Việt Nam”.

 

Trong ba tuần qua, lần đầu tiên sau 35 năm, các phương tiện truyền thông của Đảng lẫn chống Đảng từ trong nước cũng như chống Cộng từ ngoài nước đă loan tải những lời tuyên bố cứng rắn của bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton kèm theo những lời b́nh luận vui mừng, tích cực giống nhau.

 

Điều đó cũng dễ hiểu. Khoan kể mối thù truyền kiếp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ mấy ngàn năm trước, khi tổ tiên chúng ta phải sáng xuống biển t́m ngọc trai, chiều lên non t́m ngà voi, trầm hương, châu báu; khoan kể đến hàng triệu tấn súng đạn, xe tăng, đại pháo Trung Quốc đă cày xéo lên quê hương Việt Nam trong suốt cuộc chiến dài; khoan kể những tư tưởng độc hại Cộng sản Trung Quốc đă cấy vào tâm hồn bao thế hệ Việt Nam, chỉ nhắc đến Hoàng Sa Trường Sa, chỉ nhắc đến ngư dân Thanh Hóa thôi là máu hận đă xông lên trong mỗi con người Việt Nam. Trong lúc đang hoàn cảnh sức yếu thế cô, có một người mạnh như Mỹ từ xa đến bênh vực và nói lên lời phải trái, vui mừng là chuyện tự nhiên.

 

“Mỹ đang trở lại”. Câu nói đó, suốt tháng qua, hẳn đă dội lại từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam trong tâm trạng hồi hộp đợi chờ của rất đông người Việt. H́nh ảnh một hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh đậu ngoài khơi Đà Nẵng như nhắc nhở câu chuyện của tháng Ba 1965 khi Chuẩn Tướng Frederick J. Karch và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Viễn Chinh đổ bộ xuống thành phố này mở đầu cho cuộc chiến lâu dài nhất mà Mỹ đă tham gia. Khác chăng lần này Mỹ trở lại không phải để bảo vệ miền Nam nhưng bảo vệ Việt Nam. Ở hải ngoại, thậm chí có người c̣n đi xa hơn khi cho rằng người Mỹ sẽ giúp xây dựng một chế độ tự do dân chủ để họ sớm trở về sống những ngày cuối đời trong thanh b́nh, an lạc. Ở trong nước có vị c̣n nóng ḷng cho rằng Việt Nam phải gấp rút chế bom nguyên tử. Tất cả không hẹn đă vô t́nh sắp hàng dưới ngọn cờ của Đảng. Như thế mới biết t́nh yêu nước, dù trong một thanh niên hay một chính trị gia giàu kinh nghiệm, có khi cũng vội vàng và đầy cảm tính như nhau.

 

Những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton thật ra phát xuất từ chính sách ngăn chận (containment) đă bắt nguồn từ sau Thế Chiến thứ Hai. Một số nhà b́nh luận gọi chính sách Mỹ đang áp dụng là ngăn chận mới (new containment) mang nội dung kinh tế quân sự để phân biệt với chính sách ngăn chận thời Chiến Tranh Lạnh mang nội dung chống Cộng sản. Để hiểu các hoạt động của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, thiết tưởng nên đọc lại chính sách ngăn chận mà Mỹ đă và đang áp dụng.

 

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan c̣n là một nhân viên ngoại giao trung cấp làm việc cho ṭa đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Để đáp lại câu hỏi của Bộ Tài Chánh Mỹ gởi ṭa đại sứ tại sao Liên Xô lại chống lại việc thành lập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, George F. Kennan gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua h́nh thức một điện tín dài 5,500 chữ, trong đó ông tŕnh bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản. 

 

Bài phân tích của George Kennan không có tựa đề nên chỉ được biết ngày nay như là Bức Điện Tín Dài. Nếu bản phân tích được gởi đến Bộ Ngoại giao Mỹ một năm trước đó, có lẽ nó đă vào sọt rác hay đi thẳng vào pḥng lưu trữ v́ Mỹ và Liên Xô c̣n đang liên minh nhau tấn công Đức từ hai hướng Đông, Tây. Nhưng tháng 2 năm 1946, văn kiện đă làm Bộ Ngoại giao chú ư. Chính tổng thống Harry S. Truman cũng chỉ thị thành lập một nhóm nghiên cứu để phân tích bản tường tŕnh của George Kennan và phát thảo một chính sách đối ngoại dựa trên các dữ kiện mà ông đưa ra. Bức điện tín của George Kennan được xem như một trong những văn kiện lịch sử bởi v́ nó ảnh hưởng đến toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ, từ sau Thế chiến thứ Hai cho đến khi hệ thống Liên Xô sụp đổ năm 1991. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

 

Hàng loạt các chủ thuyết như Domino, Nixon, Reagan; các kế hoạch kinh tế như Marshall Plan; các liên minh như Liên pḥng Bắc Đại Tây Dương (The North Atlantic Treaty Organization) gọi tắt là NATO tại châu Âu, Liên Pḥng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) gọi tắt là SEATO tại Đông Nam Á hay Hiệp ước Hỗ tương Liên Mỹ Châu (Inter‐American Treaty of Reciprocal Assistance) tại Mỹ Châu cũng đều phát xuất từ chính sách chỉ đạo ngăn chận đó. Suốt 9 đời tổng thống từ Harry Truman đến George Herbert Walker Bush, tùy thuộc vào điều kiện chính trị quốc tế trong mỗi giai đoạn, các chiến lược chiến thuật cũng được thay đổi thích nghi nhưng đều không đi xa mục tiêu chính là ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. George Kennan được xem như là cha đẻ của lư thuyết ngăn chận.

 

Chính sách ngăn chặn đă diễn ra dưới nhiều h́nh thức. Bên cạnh cuộc chạy đua vũ trang, Star Wars, viện trợ và phản viện trợ, đảo chánh và phản đảo chánh, cách mạng và phản cách mạng, các cuộc giành dân chiếm đất bằng súng đạn cũng đă diễn ra tại một số quốc gia độn với nhiều mức độ khác nhau.

 

Các lư thuyết về quốc gia độn có nguồn gốc rất xa xưa nhằm chỉ các vùng đất hay quốc gia nhược tiểu nằm giữa hai cường quốc đối nghịch. Từ thời La Mă, các hoàng đế của đế quốc mênh mông đó đă nghĩ đến việc thiết lập các vùng đất rộng được gọi là vùng giới hạn nằm ngoài biên giới. Về sau, các học giả giải thích khái niệm vùng độn một cách rộng răi chứ không chỉ thuần nguyên nhân địa lư. Vùng độn có khi chỉ là một dải đất rộng vài chục cây số vuông để bảo đảm cho an ninh nội địa như trường hợp các làng xă nằm phía Nam Lebanon và khu vực Golan Height đối với nền an ninh Do Thái, có khi là một quốc gia như trường hợp Ba Lan sau Thế chiến thứ Nhất nằm giữa Nga và Đức, có khi bao gồm nhiều quốc gia như hàng loạt các nước Đông Âu nằm giữa Liên Xô và khối dân chủ Tây phương, cũng có khi bao gồm chỉ một quốc gia và một khối như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan.

 

Sau chiến tranh Việt Nam, chính sách Ngăn Chặn của Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và nhất là Ronald Reagan đă chuyển từ thế thủ sang thế công ở Afghanistan như Brzezinski kể lại “Nay chúng ta cơ hội để tặng cho Nga một Việt Nam riêng của họ”, bằng việc yểm trợ vũ khí cho phe Contras ở Nicaragua, giúp đỡ cho Liên minh Dân tộc V́ Độc lập Hoàn toàn của Angola (The National Union for the Total Independence of Angola, UNITA) ở Angola, đồng thời đẩy mạnh với kế hoạch chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém nhằm làm phá sản nền kinh tế Liên Xô. Cuối cùng hệ thống Liên Xô kiệt quệ và tan ră.

 

Hiện nay, chủ nghĩa Cộng sản chỉ c̣n thoi thóp ở vài nơi, Chiến tranh Lạnh đă chấm dứt nhưng chính sách ngăn chận đối với Nga và Trung Quốc, hai đối thủ nguyên tử đang cạnh tranh kinh tế và quân sự với Mỹ vẫn được tiến hành.

 

Đối với Nga, bất chấp lời hứa vào những năm đầu 1990 rằng NATO sẽ không mở rộng ra khỏi biên giới Đức, Mỹ đă mời hàng loạt quốc gia, không chỉ các nước thuộc khối Cộng sản Đông Âu trước đây mà c̣n những quốc gia nhỏ nhưng có biên giới sát với Nga như Latvia, Lithuania, Estonia tham gia vào NATO. Ngoài ra, Mỹ c̣n dự tính thiết lập hàng rào hỏa tiễn tại Ba Lan để gọi là “pḥng thủ” nhưng thực tế là “trung lập hóa” hàng rào hỏa tiễn Nga. Lănh tụ Nga Vladimir Putin xem kế koạch của Mỹ chẳng khác ǵ dựng lên một Cuba ở Đông Âu. Ở phía Nam, Mỹ bao vây Nga bằng cách ủng hộ Ukraine và Georgia. Ukraine giữ một vị trí cực kỳ quan trọng về cả chiến lược lẫn văn hóa. Các sử gia Nga theo truyền thống vẫn gọi thủ đô Kiev là “Mẹ của các thành phố Nga”. Mỹ cũng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Kosovo và công khai phản đối Nga khi họ thẳng tay đàn áp phong trào đ̣i ly khai của dân Chechnya, một trong 83 Cộng ḥa độc lập trong Liên bang Nga. Dù sao, chuyến viếng thăm Nga của tổng thống Barack Obama vào đầu tháng 7, 2009 đă giúp làm dịu một số căng thẳng giữa hai nước. Nga đơn phương cho phép vơ khí và quân đội Mỹ được sử dụng không phận Nga trên đường đến Afghanistan thay v́ phải vượt qua đèo Khyber hiểm trở. Hai tháng sau đó, Obama đă làm Vladimir Putin ngạc nhiên khi tuyên bố hủy bỏ kế hoạch xây dựng pḥng tuyến hỏa tiễn tại Ba Lan. Đáp lại, Nga cũng hủy bỏ ư định trả đũa các dự tính quân sự tại Ba Lan của cựu tổng thống George W. Bush.

 

Việc làm dịu quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Nga cũng dễ hiểu v́ đối thủ chính trong thế kỷ 21 của Mỹ không phải Nga mà là Trung Quốc.

 

Nếu tính từ thời điểm 1978, khi chính sách đổi mới của Đặng Tiểu B́nh ra đời đến nay, Trung Quốc là quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ trong ṿng chưa đầy 30 năm, lợi tức b́nh quân tính theo đầu người của Trung Quốc vào năm 2005 tăng gấp 9 lần. Mới đây, đệ nhị cá nguyệt của 2010, Trung Quốc chính thức qua mặt Nhật Bản để trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc là nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng cho cả thế giới. Dù thương hay ghét, dù ủng hộ hay bài trừ, một nửa đồ dùng trong trong nhà một gia đ́nh Mỹ được chế tạo tại Trung Quốc. Từ chiếc DVD, TV, máy in, máy điện toán cá nhân, giày dép, áo quần và ngay cả lá cờ Mỹ, cũng “Made in China”.

 

Ngoài các lư do chủ quan phát xuất từ chính sách kinh tế của họ Đặng, một yếu tố khách quan thuận lợi cho việc phát triển nhanh chóng là việc nước này hội nhập vào thế giới đúng thời điểm nền kinh tế thế giới đang bắt đầu chuyển động theo hướng toàn cầu hóa. Chỉ trong ṿng 25 năm, từ một quốc gia tự cô lập, Trung Quốc trở thành một cường quốc và đang tiếp tục xuất hiện như một siêu cường của thế kỷ 21. Chính sách của Trung Quốc ảnh hưởng cả thế giới, không phải chỉ trong lănh vực kinh tế, tài chánh, ngân hàng mà cả chính trị và quân sự.

 

Nếu lịch sử là một chu kỳ lặp lại, tham vọng bành trướng của Trung Quốc không khác nhiều so với thời kỳ sau cuộc cách mạng kỹ nghệ và chủ nghĩa Thực dân Âu châu bắt đầu xâm thực các nước Á, Phi vào đầu thế kỷ 18. Chỉ trong ṿng 6 năm, từ 2001 đến 2006, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước Phi Châu đă tăng từ 1 tỉ đô la đến 50 tỉ đô la. Hai chục năm trước đây, ít khi các lănh đạo Trung Quốc đặt chân đến Phi châu, nhưng chỉ trong 5 năm qua, các lănh đạo hàng đầu Trung Quốc đă viếng thăm Phi châu 5 lần để tăng cường các hợp tác kinh tế quân sự giữa Trung Quốc và lục địa đầy tài nguyên thiên nhiên này. Trung Quốc hiện diện cùng khắp Phi Châu, từ bệnh viện đến trường học, từ cầu cống đến phi trường và đang tiêu diệt tận gốc rễ mọi mầm mống phát triển kinh tế của các quốc gia mới vừa thoát khỏi ách thực dân và nội chiến. Giấc mơ độc lập của các nước châu Phi chỉ là một giấc mơ trong quá khứ.

 

Tuy nhiên, con bạch tuộc Trung Quốc rất hùng hổ, rất đe dọa đối với thế giới bên ngoài nhưng lại rất yếu đuối, mong manh trong nội bộ. Bà Susan L.Shirk, một học giả quan tâm đến Trung Quốc khi c̣n là một những sinh viên Mỹ thăm viếng Trung Quốc và được Thủ tướng Chu Ân Lai chào đón vào năm 1971, trong tác phẩm Trung Quốc, siêu cường dễ vỡ cho rằng đe dọa lớn nhất của Trung Quốc là từ bên trong.

 

Về chính trị. Các nhà lănh đạo Trung Quốc không phải lo ứng cử đề cử như các quốc gia dân chủ, nhưng lại cho sợ mất quyền hành hơn là các lănh đạo Tây phương dân chủ. Bài học Liên Xô và các chế độc tài khác trong lịch sử đă cho giới lănh đạo Cộng sản Trung Quốc biết không sớm th́ muộn ṭa lâu đài xây trên cát hiện nay cũng bị ngọn sóng dân chủ cuốn ra khơi. Các lănh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lănh thổ mênh mông và đầy dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xă hội. Sự thay đổi các triều đại phong kiến Trung Quốc là những cuộc thanh toán nhau bằng máu. Ngày nay, những mâu thuẫn giữa mức độ xă hội hóa của nền kinh tế và cơ chế chính trị ngày càng trầm trọng đến nỗi nhiều học giả cho rằng vấn đề không phải chế độ độc tài Cộng sản tại Trung Quốc có sụp đổ hay không mà là sớm hay muộn.

 

Về kinh tế. Nền kinh tế Trung Quốc tăng liên tục trong mấy chục năm qua nhưng không có nghĩa là sẽ tăng măi măi. Nền kinh tế Trung Quốc tuy nằm trong tay một đảng có tổ chức rất cao, nhưng sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc phần lớn lệ thuộc vào kinh tế thế giới. Một định luật có tính lặp lại theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường là tăng trưởng, suy thoái và điều chỉnh. Và khi có sự điều chỉnh, kinh tế thị trường sẽ dẫn đến hậu quả thất nghiệp trong kỹ nghệ và trong nông nghiệp, lạm phát gia tăng, giá cả đắt đỏ, tiền lương hạ thấp, tiền tiết kiệm kư thác trong ngân hàng sẽ bị hàng trăm triệu người đạp lên nhau để rút ra. Thời đại tin học có lợi nhưng cũng vô cùng tác hại khi các nguồn tin được tung ra quá nhanh chóng, nhưng lại không có phương tiện để kiểm chứng. Quân đội dù có đông đảo và tàn bạo bao nhiêu cũng không thể ngăn được làn sóng của một tỉ người từ Hải Nam đến Tân Cương đều có một phản ứng tiêu cực giống nhau. Các cuộc biểu t́nh ở Tân Cương mới đây cho thấy không nhất thiết phải có một tổ chức quy mô nhưng chỉ cần một tin ngắn được phát ra đúng lúc và đúng chỗ cũng có thể tạo nên một biến cố lớn. Bom nguyên tử, hỏa tiễn, chiến hạm, tàu ngầm đều trở thành vô dụng.

 

Về quân sự. Trung Quốc là một đất nước có lịch sử phân hóa và nội phản từ trong xương tủy. Là một nước lớn, nhưng Trung Quốc thường không đủ khả năng bảo vệ chính ḿnh. Đừng nói chi thời cuối đời nhà Thanh bị 8 nước Mỹ và Âu Châu cấu xé, mà ngay thời nhà Tống vàng son nhất của Trung Quốc cuối cùng rơi vào tay Mông Cổ, một nước rất nhỏ trên thảo nguyên phía Bắc. Và một lần nữa vào thế kỷ 17, khi nhà Minh, một triều đại rất mạnh về quân sự nhưng cũng không tránh bị tiêu diệt trong bàn tay của dân tộc Măn Thanh nhỏ bé. Lịch sử Trung Quốc cũng để lại rất nhiều bài học về các cuộc nổi loạn lớn làm lung lay tận gốc rễ nhiều đế chế trước đó tưởng chừng không thể nào sụp đổ. Cuộc nổi dậy Thái B́nh Thiên Quốc là một ví dụ điển h́nh. Mặc dù loạn Hồng Tú Toàn bị dẹp nhưng đă mang theo sinh mạng của 20 triệu người trong 15 năm khói lửa. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không được may mắn như nhà Thanh v́ họ sẽ không tồn tại được lâu như thế.

 

Về xă hội. Trước thời mở cửa kinh tế, đại đa số người dân Trung Quốc lớn lên từ nơi họ sinh ra nhưng từ khi kinh tế phát triển, lực lượng lao động của Trung Quốc đổ dồn vào các thành phố. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, đô thị và nông thông ngày càng trầm trọng. Tại Trung Quốc, chỉ 10 phần trăm dân số chiếm hữu 45 phần trăm tài sản quốc gia. Sự phân cực trong xă hội do hậu quả của phát triển kinh tế không cân bằng sẽ dẫn đến t́nh trạng bất ổn xă hội. Giống như các nước dân chủ, khi gặp khó khăn, người dân sẽ đặt vấn đề với hàng ngũ lănh đạo, nhưng khác với các nước dân chủ, cách giải quyết tại Trung Quốc cũng như tại hầu hết các nước độc tài thường diễn ra bằng sắc máu. Với sự phân cách về địa lư và dị biệt về chủng tộc tại Trung Quốc, sẽ không có một h́nh thức cách mạng nhung, cách mạng da cam, da vàng nào dành cho Trung Quốc. Cách giải quyết dùng xe tăng, đại pháo bắng thẳng vào những thanh niên tay trắng tại Thiên An Môn của Đặng Tiểu B́nh đối với phần lớn nhân loại là dă man nhưng lại phù hợp với truyền thống dă man của Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn đă qua gần 20 năm nhưng vẫn là mối ám ảnh thường xuyên trong giấc ngủ của các lănh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bởi v́ đảng chỉ dập tắt ngọn lửa trên quảng trường Thiên An Môn nhưng không dập tắt được ngọn lửa chống đối trong ḷng người. Ngọn lửa tự do dân chủ đó vẫn sáng và sẽ một ngày bùng cháy.

 

Về đối ngoại. Trung Quốc có nhiều đối thủ lợi hại, trong đó gồm Nhật Bản, Ấn Độ, và Mỹ. Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ trong 10 năm qua đă phát triển đến một mức độ vô cùng phức tạp. Mỹ là một trong những quốc gia nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc, từ 100 tỉ đô la năm 2000 đến 296 tỉ đô-la vào năm 2009. Trung Quốc nhập cảng từ Mỹ cũng tăng từ 16 tỉ đô-la năm 2000 đến 70 tỉ đô-la năm 2009. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhau về mặt kinh tế không có nghĩa là các chính quyền Mỹ không xem Trung Quốc là đối thủ nguy hiểm trong tương lai gần và không có nghĩa là Mỹ ngồi yên để nh́n bàn tay tham vọng của Trung Quốc vươn xa toàn thế giới.

 

Ngày 29 tháng Giêng, 2010, chính quyền Obama chấp thuận thương vụ trị giá 6.4 tỉ đô-la gồm trực thăng Black Hawk và vơ khí chống hỏa tiễn Patriots, tàu vét ḿn cho Đài Loan, cùng với việc hợp tác để sản xuất tàu ngầm hoạt động trong vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lănh hải của họ. Trung Quốc luôn xem Đài Loan thuộc về Trung Quốc, do đó, như Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei tức khắc phản đối cho rằng Mỹ đă can thiệp vào vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Trung Quốc trả thù bằng cách hủy bỏ các thương vụ của Trung Quốc với các công ty Mỹ đang bán vơ khí cho Đài Loan. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đáp lại: “Đây là một bằng chứng rơ ràng, chính phủ Mỹ phải cung cấp cho Đài Loan các vơ khí pḥng thủ mà họ cần”. Ngoài ra, chính phủ Mỹ xác định tiếp tục xem xét nhu cầu pḥng thủ không phận Đài Loan trước khi bán cả phi cơ chiến đấu F-16 tinh xảo cho Đài Loan.

 

Sau đó hai tuần lễ, ngày 18 tháng Hai 2010, Tổng Thống Barack Obama đă tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại ṭa Bạch Ốc. Lần nữa, Trung Quốc đă phản đối mạnh mẽ và cho rằng việc tiếp vị lănh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng là vi phạm lời cam kết của Mỹ rằng Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Mỹ đáp lại, mặc dù Mỹ công nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc nhưng Trung Quốc cũng phải tôn trọng sự khác biệt văn hóa giữa Tây Tạng và phần c̣n lại của Trung Quốc. Để làm nhẹ ảnh hưởng của buổi tiếp kiến, chính quyền Obama không cho phép báo chí vào chụp h́nh, nhưng sau buổi tiếp kiến, ṭa Bạch Ốc đă công bố bức h́nh Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng Thống Obama ngồi cạnh nhau. Phát ngôn viên ṭa Bạch ốc ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma đă theo đuổi mục tiêu bằng phương pháp bất bạo động và cho báo chí biết tổng thống Obama đă ủng hộ một cách mạnh mẽ việc giữ ǵn đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo độc đáo của dân tộc này.

 

Nhưng dù bán bao nhiêu vơ khí cho Đài Loan hay tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đài Loan và Tây Tạng cũng chỉ là những yếu tố tĩnh chứ không phải yếu tố động. Cả hai đều không hội đủ điều kiện để tạo nên những biến cố có ảnh hưởng vùng hay thế giới. Những cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng đều mang tính địa phương, gây được thiện cảm nhưng không có tác dụng lớn với chính quyền Trung Quốc. Chuyện Trung Quốc thanh toán Đài Loan bằng vơ lực cũng rất khó xảy ra v́ Trung Quốc biết Hoa Kỳ không bao giờ để xảy ra và dù có xảy ra cũng chưa chắc đă thắng, c̣n chuyện Đài Loan giải phóng Trung Hoa lục địa th́ đă chết theo Tưởng Giới Thạch từ 1975. Chỉ có hai quốc gia độn là Bắc Hàn và Việt Nam mới thật sự đóng vai tṛ quan trọng.

 

Không ai biết rơ, hiểu rơ Bắc Hàn và Việt Nam hơn đàn anh Trung Quốc và cũng không ai hiểu thế mạnh thế yếu của đàn anh Trung Quốc hơn Bắc Hàn và Việt Nam. Như lịch sử chứng minh, Trung Quốc sẽ phải làm tất cả những ǵ có thể làm, kể cả hy sinh mạng sống của nhân dân họ để duy tŕ ảnh hưởng với hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Bắc Hàn.

 

Đối với Bắc Hàn, ngoài mấy chục ngàn chí nguyện quân Trung Quốc đă bỏ thây trong chiến tranh Nam Bắc Hàn, Trung Quốc hàng năm đă phải dành riêng một nguồn tài nguyên, của cải lớn để nuôi dưỡng Bắc Hàn. Mặc dù không có tài liệu chính thức nào cho biết tổng số viện trợ Trung Quốc dành cho Bắc Hàn là bao nhiêu nhưng cả thế giới đều biết nguồn viện trợ chính của Bắc Hàn không đến từ đâu khác hơn là Trung Quốc. Theo báo Korea Times, Trung Quốc cung cấp gần hết nguồn năng lượng cho Bắc Hàn và một nửa số thực phẩm người dân Bắc Hàn đang dùng mang nhăn hiệuTrung Quốc.

 

Một số nhà phân tích chính trị cho rằng hành vi và cách cư xử bất thường của lănh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật trong quan hệ ngoại giao quốc tế nhiều khi đặt giới lănh đạo Trung Quốc vào vị thế khó xử. Nhận xét đó chỉ đúng một nửa. Với Trung Quốc, một Kim Chính Nhật bất b́nh thường vẫn tốt hơn là một Kim Chính Nhật b́nh thường, một Bắc Hàn tự cô lập vẫn tốt hơn là một Bắc Hàn mở rộng. Giả thiết, v́ bất cứ lư do ǵ, Bắc Hàn trở mặt với Trung Quốc, quay sang bắt tay với Mỹ, ḥa giải với Nam Hàn, mở cửa ngoại thương, hội nhập vào thế giới v.v... quả thật vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. Nếu một ngày nào đó Kim Chính Nhật giống như nhà độc tài Libya Muammar al-Gaddafi, người mà trước đây từng bị cố Tổng Thống Reagan gọi là “Chó dại vùng Trung Đông”, bỗng dưng “buông đao đồ tể” lên tiếng kết án khủng bố, xin lỗi nạn nhân, Trung Quốc sẽ phải lo lắng nhiều hơn là mừng rỡ. Không có Kim Chính Nhật, chung quanh Trung Quốc sẽ c̣n lại toàn là kẻ thù. Ngoài mấy chục ngàn quân Mỹ và Hạm đội thứ Bảy hùng hậu đặt bản doanh ở Yokosuka, Trung Quốc bị bao vây bởi hai anh khổng lồ Nhật Bản và Ấn Độ. Kim Chính Nhật biết rơ thế yếu của Trung Quốc nên sử dụng vị trí sân sau và lá bài vơ khí nguyên tử của ḿnh một cách có lợi cho việc duy tŕ quyền lănh đạo tuyệt đối trên bán đảo Triều Tiên. Không có tài trợ từ Trung Quốc, Bắc Hàn sẽ sụp đổ; nhưng không có Bắc Hàn, pḥng tuyến an ninh dài 1400 km phía Đông Bắc sẽ bị phá vỡ. Trung Quốc ưa thích Kim Chính Nhật? Chắc chắn là không, nhưng cần th́ quá sức cần.

 

Khác với Phi Châu, chính sách bành trướng của Trung Quốc tại Đông Nam Á không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà quan trọng hơn là an ninh và quân sự. Trung Quốc đă dùng vũ lực để chiếm phần lớn các đảo trong vùng Biển Đông mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền. Tháng Hai 1992, quốc hội Trung Quốc ngang ngược thông qua một đạo luật tuyên bố rằng 80 phần trăm biển Đông là của họ. Năm 1994, Trung Quốc ngang nhiên thiết lập các căn cứ quân sự trên các đảo bất chấp sự phản đối của thế giới. Trong quá tŕnh bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam là nước bị thiệt hại nặng nhất về lănh thổ, lănh hải và nhân mạng.

 

Quan hệ giữa Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam có một lịch sử lâu dài từ ngày Đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Cả hai nước đă thừa nhận sự đóng góp của cải và xương máu của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

 

Không giống như Kim Nhật Thành đầu độc cán bộ đảng và nhân dân Bắc Hàn bằng mớ lư luận Juche mơ hồ, không tưởng, các nhà lănh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam là những người Cộng sản đệ Tam chính thống, vốn thấm nhuần lư thuyết Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Các lănh đạo đảng là những người tuyệt đối trung thành với lư tưởng Cộng sản và có một thời rất lâu tin một cách chân thành vào đàn anh Trung Quốc. Việc chọn đứng về phe Liên Xô và tiến chiếm Campuchia của Việt Nam đă dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và hàng loạt các cuộc đụng lớn vào những năm sau đó như trận Cao Bằng 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên 1981,Vị Xuyên Hà Tuyên 1984, Lăo Sơn Hà Giang 1984, Vị Xuyên lần nữa vào 1985 và 1986.

 

Sau khi hệ thống Liên Xô sụp đổ, chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng lư luận, bang giao quốc tế, viện trợ kinh tế cũng sụp đổ theo. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng bên bờ vực thẳm và không c̣n con đường nào khác là lần nữa t́m nơi nương tựa dưới tàng cây Trung Quốc.

 

Tháng 9 năm 1990, lănh đạo cao cấp của hai đảng gặp ở Thành Đô để bàn về việc giải quyết xung đột Campuchia và tái lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay vào thời điểm một siêu cường như Liên Xô và cả khối Đông Âu đă sụp đổ mà các lănh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn c̣n tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô lănh đạo phong trào Cộng sản thế giới và tiếp tục giương cao ngọn cờ Xă hội Chủ nghĩa. Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đă viết lại trong hồi kư của ông: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là v́ chính ta đă tự lừa ta. Ta đă tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ ‘diễn biến hoà b́nh” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đă dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm ‘giải pháp Đỏ’, tức giải pháp nhằm loại bỏ các thành phần không Cộng sản ra khỏi chính quyền liên hiệp tại Campuchia.

 

Dù sao, sau lần gặp gỡ đó, quan hệ Việt Trung đă cải thiện. Hàng loạt các thỏa hiệp đă được kư kết. Năm 1999, Giang Trạch Dân đề ra một khẩu hiệu để biểu hiện cho mối quan hệ mới giữa hai nước và được gọi là 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Một vài quan điểm cho rằng mười sáu chữ vàng là chiếc ṿng kim cô Đảng phải đội trên đầu, nhưng cũng có nguồn tin khác cho rằng Đảng c̣n muốn lệ thuộc hơn thế nữa bằng việc thay chữ hợp tác “toàn diện” thành hợp tác“chiến lược” nhưng Trung Quốc không đồng ư.

 

Trung Quốc hiểu vị trí khó khăn của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó, trong lúc Việt Nam t́m cách để được phụ thuộc vào Trung Quốc như một đàn anh Xă hội Chủ nghĩa, Trung Quốc tỏ ra thiếu tin tưởng vào người đàn em có một quá khứ đầy phản trắc này. Ngoài miệng tuy không ngừng lặp lại mười sáu chữ vàng, trong thâm tâm, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng nước lớn bằng việc ra lịnh hải quân Trung Quốc bắn thủng các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam một cách không thương tiếc. Hành động coi thường sinh mạng người Việt là một cách thể hiện thái độ khinh bỉ giới lănh đạo Cộng sản Việt Nam.

 

Ngày 23 tháng Bảy vừa qua, cái nút chặn Việt Nam mà Trung Quốc tin rằng không thể nào thoát được bỗng dưng lỏng lẻo. Chiếc ṿng kim cô Trung Quốc gắn lên đầu Đảng Cộng sản Việt Nam có nguy cơ rơi xuống. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và một loạt những biến cố chung quanh bao gồm việc hợp tác hạch nhân mà không bao gồm các điều khoản cấm tinh chế Uranium và chuyến viếng thăm vùng biển Đà Nẵng của Hàng không Mẫu hạm USS George Washington đă làm thay đổi cán cân quyền lực trong vùng. Và lần nữa, Việt Nam lại đóng vai tṛ của một vị trí chiến lược trong chính sách ngăn chận của Mỹ đối với Trung Quốc tại Đông Nam Á.

 

Đất Việt Nam, máu Việt Nam, xương thịt Việt Nam trong số phận của một sân sau an toàn của Trung Quốc và một tiền đồn của phe chống Trung Quốc bành trướng, do nhu cầu của chính sách ngăn chận mới, có thể sắp bắt đầu lên giá.

 

Nh́n vào bản đồ Á châu, chúng ta không khỏi nghĩ đến chiến tranh Trung Mỹ rồi sẽ phải xảy ra. Dù các nhà b́nh luận có cho rằng quyền lợi của các siêu cường ngày nay đă phụ thuộc, quyện lẫn vào nhau đến mức độ không thể có một bên thắng, một bên bại nếu chiến tranh bùng nổ. Nhưng quan niệm đó không phải là mới. Trước đây đă có nhiều người nói như thế. Sau Thế chiến thứ Nhất, Hội Quốc Liên được thành lập với chức năng duy nhất là bảo đảm nhân loại sẽ không bị tàn sát khủng khiếp như thế nữa. Bao nhiêu tài năng và nỗ lực đă được dành vào mục đích đó, nhưng chưa đầy 20 năm sau, nhân loại lại phải lao vào cuộc chém giết với hậu quả trầm trọng gấp nhiều lần hơn trước.

 

Cuộc xung đột Mỹ, Trung, Nga trong Chiến tranh Lạnh để lại nhiều bài học quư giá về số phận của những sân sau, tiền đồn và vùng độn. Có những tiền đồn ch́m đắm trong chiến tranh hận thù nghèo đói như Cu Ba, Việt Nam, Bắc Hàn, Afghanistan nhưng cũng có những tiền đồn nhờ xung đột đă trở nên giàu có như Nam Hàn, Tây Đức, Đài Loan. Có những vùng độn phải trở thành chư hầu lệ thuộc như các nước Đông Âu thời Liên Xô nhưng cũng có những vùng độn nhờ tài năng của những người lănh đạo mà duy tŕ được độc lập như Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ. Và đặc điểm chung rơ nét của những quốc gia vượt qua được số phận sân sau, tiền đồn và vùng độn để trở nên thăng tiến giàu mạnh chính là dân chủ. Dân chủ là đôi cánh thời đại đă giúp Nam Hàn, Đài Loan, Tây Đức, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua những vị trí địa lư chính trị khó khăn và trở thành quốc gia giàu mạnh, được kính trọng, có tiếng nói độc lập trong bang giao quốc tế.

 

Không ai có thể tiên đoán một ngàn năm nữa Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng dù ra sao th́ đó cũng là trách nhiệm của các thế hệ sau này. Trách nhiệm của các thế hệ hôm nay là giữ nguyên vẹn được mảnh đất mà tổ tiên để lại và xây dựng trên đó một căn nhà thương yêu, đoàn kết, tự do, dân chủ và giàu mạnh. Dân chủ sẽ là vũ khí hữu hiệu nhất để ngăn chận những đe dọa từ Trung Quốc và dân chủ cũng là phương tiện giúp Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

 

Những lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton chưa hẳn giúp ǵ cho số phận của các anh Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim v.v… đang ở trong tù như một số người đang nghĩ, trái lại các nỗ lực của họ có thể bị quên đi hay bị cuộc tranh chấp Mỹ - Trung che mờ đi. Với Mỹ, chủ nghĩa Cộng sản thế giới đă chết. Những chế độ độc tài c̣n rơi rớt ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba, Bắc Hàn phát xuất từ điều kiện riêng của các quốc gia này chứ không phải nhờ vào các tinh hoa tinh huyết ǵ của chủ nghĩa Cộng sản. Ngày nay, Mỹ đối xử với các chính quyền Trung Quốc hay Việt Nam như là những chính quyền hợp pháp mặc dù Mỹ biết không ai bầu các chính quyền này ra.

 

Cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam, v́ thế, c̣n nhiều khó khăn và sẽ đ̣i hỏi nhiều thời gian, công sức, hy sinh. Tuy nhiên như bác sĩ Lê Nguyên Sang vừa phát biểu sau khi vừa ra khỏi tù “Con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được”. Đúng vậy. Dân chủ, tự do, b́nh đẳng là quyền bẩm sinh của mỗi con người. Không một ông Harry Truman nào đến Nam Hàn để trao món quà dân chủ trước đây và cũng không có bà Hillary Clinton nào đến Việt Nam để ban phát tự do hôm nay. Sáu chục năm trước, từ đống tro tàn của cuộc chiến, nếu có người tiên đoán rằng năm 2010, Nam Hàn sẽ là một cường quốc kinh tế thứ tư của Á Châu và thứ mười hai của thế giới, người đó có thể bị cho là mỉa mai dân tộc Triều Tiên hay là điên khùng. Tương tự hôm nay, có thể cũng có người cười mai mỉa khi nghe rằng dân tộc Việt Nam rồi cũng sẽ đạt đến điểm hẹn huy hoàng tự do, dân chủ, giàu mạnh như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới đă từng đạt được. Đó không phải là một khẩu hiệu, một ước mơ, nhưng là sự thật, là chân lư. Đảng Cộng sản Việt Nam muốn có mặt trong cuộc vận hành lịch sử của dân tộc Việt Nam trước hết họ phải tự tan biến đi.

  talawas: http://www.talawas.org/2010/08/tran-trung-ao-tranh-chap-my-trung-mot.html

24 tháng tám năm 2010

http://www.talawas.org/2010/08/tran-trung-dao-tranh-chap-my-trung-mot.html

---------------------------------------------------------------------------------------------------  

 

 Việt Nam, cuộc Cách Mạng không có tiếng súng

Cuộc đảo chánh không tiếng súng


Bất ngờ! “Một cuộc đảo chính không tiếng súng” Trong lịch sữ cận đại, lần nầy mới đúng nghĩa là cuộc Cách Mạng thật sự theo định nghĩa bản chất của nó. Ngày xưa phản t́nh báo CIA sữ dụng Tam-trùng Phạm Xuân Ẫn tuyệt-vời đến nỗi Mai Chí Thọ không biết ǵ cả, ngày nay lại một lần nữa phản t́nh báo CIA sữ dụng Tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh một cách siêu tuyệt-vời mà Đặng Tiểu B́nh và Hồ Cẫm Đào không biết ǵ cả. Theo tôi, có vẻ như Bộ máy siêu Mafia (lớp vơ ngoài là ĐCSVN) tại VN vừa có một quyết định rất hệ trọng trong đường lối đối ngoại, từ bỏ con đường thân và phụ thuộc Trung Quốc bằng con đường khác, đó là kết bạn với mọi nước, dĩ nhiên chỗ dựa vững chắc là một mặt kết thân với Hoa Kỳ và các nước Nhật Bản, Ấn Độ, châu Âu, Úc, Canada … , mặt khác giữ quan hệ b́nh thường với nước láng giềng nhỏ, lớn phương bắc và cảnh giác với mọi mưu đồ bành trướng của Trung Quọc. Tôi có thể phán đoán là ư kiến mạnh dạn, cứng cỏi của thành phần Quân đội trong đảng Mafia được gọi là ĐCS đă tạo nên mầm mống sự thay đổi quan trọng này.

Thêm vào đó tôi c̣n cho rằng lănh đạo khi phải phát triễn sự thay đổi này muốn dành chỗ cho cả những nhân vật được xem là thân Trung Quốc, như các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, nhằm đạt sự đồng thuận theo con đường «chống Tàu cứu nước».

Kinh nghiệm sự vận-dụng Phạm Xuân Ẫn cua CIA, tôi căm thấy phải nói thêm rằng việc đề-cử điệp viên của Trung Quốc, tướng Nguyễn Chí Vịnh dự cuộc đối thoại cấp cao quốc pḥng Việt-Mỹ ngày 17-8, Bộ máy cầm quyền Mafia VN muốn nhắn với Trung Quốc rằng đừng hy vọng ǵ vào các con bài Đỗ Mười, Lê Đức Anh, của họ, v́ những người này đang t́m cách xếp hàng vào với đa số «chống Tàu cứu nước » để sống c̣n theo lô-đồ cũa phăn t́nh báo CIA ngăn chận “sẽ không có cuộc thanh trừng đẫm máu” cũng mong rằng những dự đoán về sách lược Eurasian là xác thực. Nếu quả là như vậy th́ c̣n ǵ hay, tốt, có lợi cho đất nước, cho nhân dân hơn, và Bộ may Mafia hiện nay không phải là thấp kém, là thiếu cả tầm nhin sâu sắc, không phải là «những Quốc Tŕ Cung» về khả năng lănh đạo, như một số trí tnức trong va ngoai nước đánh giá.

Và cũng nếu quả là như vậy th́ Bộ máy cầm quyền hiện nay đă hiểu rơ về chức năng lănh đạo, nhất là chức năng lănh đạo một dân tộc, một đất nước. Đó là phải t́m cho ra con đường tối ưu trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại nhằm phát triển bền vững với tốc độ cao trong đồng thuận dân tộc cả trong và ngoài nước. Do đó lănh đạo là phải biết lựa chọn hướng đi, vơ đoán thay đổi phương hướng đi cùng đường lối hành động khi cần thiết, là biết bẻ lái rẽ ngoặt từ đường ṃn đầy cạm bẫy ra đại lộ thênh thang hiện đại của thế giới văn minh, dĩ nhiên là tất cả đều đi dúng theo lô-đồ của phản t́nh báo CIA thiết kế rất tĩ mĩ và chu đáo

Sự thay đổi con đường đối ngoại như trên nếu là sự thật hiển nhiên (con đường do CIA vạch sẵn của 10 năm sau cùng cũa chiến-lược Eurasian) th́ sẽ là đại phúc cho dân tộc và nhân dân ta, là điều tốt đẹp cho lănh đạo đảng dám từ bỏ «con đường Bắc thuộc » sai lầm, tệ hại trong suốt gần 20 năm qua, đă làm mất đà phát triển, làm mất thời gian quư báu, phí phạm bao tiền của, tài nguyên của đất nước. Nhưng đối với siêu chính phũ Mỹ (Permanent Government) là political business trăi qua nhiều giai đoạn điễm mốc thời gian (decent interval) Qua sự thay đổi ngoạn mục này để cho người Việt hăi ngoại yên tâm vi có thể giới lănh đạo dần dần chuộc lại một phần những sai lầm nghiêm trọng, kéo dài, tệ hại của 20 năm phụ thuộc vừa qua, khôi phục một phần niềm tin của người dân trong và ngoài nước.

Nếu như sự thay đổi đường lối đối ngoại như trên là sự thật hiển nhiên và sâu sắc, những nhân tố ǵ đă dẫn đến sự thay đổi ấy? Câu trả lời là kế hoặch 10 năm sau cùng cũa sách lược Eurasian là vậy: quanh quẫn vùng Trung Á các nước Cộng Ḥa cũa Liên Xô và Trung Quốc được tách rời hưỡng đặc ân tối huệ quốc do Mỹ dâng tặng.

Có thể nói đó là sự trùng hợp của nhiều yếu tố, có những yếu tố nội tại, từ trong nước, có những yếu tố khu vực và toàn cầu từ bên ngoài tác động đến thời cuộc tương ứng hiện tại

Trong nước, con đường phụ thuộc dại dột đă phơi bày những thảm cảnh chưa từng có là do phăn t́nh báo CIA xúi bẫy Tỗng Cục 2 phải làm vậy, như chúng ta đă chứng kiến bao nhiêu lần phản t́nh báo CIA đă xúi Đảng Mafia nầy lúc thi quay mặt về Liên Xô khi th́ quây mặt về Trung Quóc, rồi lại quây mặt về Liên Xô cuối cùng ôm cứng ngắt Bố-Già đại cồ sư phụ mới vương lên thành ḥn đá tăng xừng xựng án ngữ Biễn Đông. Cái gọi là duy tŕ định hướng chủ nghĩa xă hội theo Trung Quốc mà nội dung chính dẫn đến sự làm ăn thua lỗ nặng nề, phá sản, vỡ nợ của những cơ sở quốc doanh từ lớn nhất đến nhỏ nhất gọi là chịu đấm ăn xôi, (nhưng đây nằm trong kế hoặch chống tham nhũng để loại dần nhóm mật thiết than-thiện với Trung Quốc)

Tỗng Cục 2 để cho bọn bành trướng trúng thầu hầu hết các công tŕnh trọng điểm về kinh tế: khai khoáng, cơ khí, năng lượng, vật liệu xây dựng, trồng rừng, giao thông vận tải…Cả vùng chiến lược Tây nguyên có nguy cơ bị hủy diệt cuộc sống trong vũng bùn đỏ độc hại để thỏa măn nhu cầu Nhôm của nước lớn. CIA muốn gây mầm mống câm thù từ người dân thấp cỗ bé miệng dần dần thâm nhập tận các tế-bào trong thân thễ. Tất cả hậu quả đă phơi bày sự tệ hại, đến người dân thường cũng động tâm và có thể nhận ra trong phẫn nộ cao độ, chưa nói đến sự nổi giận chính đáng của giới sĩ phu đông đảo. Bộ máy cai-trị không thể không nhận ra ngày càng rơ những hậu quả khủng khiếp nhăn tiền ấy cũng như sự nổi giận xung thiên của hăi ngoại cùng toàn xă hội trong nước do con đường Bắc thuộc đưa lại.

Trong khi ấy, t́nh h́nh thế giới chuyển động. Trung Quốc ngày càng tỏ rơ tham vọng phát triển gấp lên để rồi thành siêu cường số một, cạnh tranh với Mỹ. Bắc Kinh lợi dụng sự sa lầy của Hoa Kỳ ở Trung Đông, Iraq, Afghanistan, và sự khủng hoảng tài chính của phương Tây để thách thức Mỹ. Nhưng họ đă quá chủ quan và lầm to, nung ư chí, và sai lầm. Họ đă quên lời khuyên của Đặng Tiểu B́nh trước khi nhắm mắt, là Trung Quốc hăy lẳng lặng, nghiến răng mà phát triển, trong 50 năm thu hẹp dần khoảng cách, chớ có sớm khiêu khích người khác, khi thế lực quân sự c̣n yếu kém. (Đến 2030 khi TQ có khă năng khoan dầu dưới độ sâu thềm lục địa đá cứng, lúc nầy TQ sẽ gây chiến tranh thứ 3, vi TQ không chết hết và sẽ lănh đạo thế giới đúng theo thiên cơ, nhưng đúng theo thời cuộc th́ Mỹ đă chơi trước rồi đừng ḥng mong đợi)

Yêu sách độc chiếm biển Đông, sự huênh hoang về căn cứ tầu ngầm ở Tam Á-Hải Nam, dàn hàng trăm hoả tiển hướng ra Đài Loan… là những hành động khiêu khích ngang ngược, như con hổ con nhe nanh c̣n non, vuốt c̣n mỏng. TQ đă vướng vào cái bẫy Biễn Đông để có lư do Mỹ không thương tiếc chia TQ ra nhiều tiểu quốc theo mưu đồ đă giăi cứu đức Đạt Lai lama 1959. Và điều quan trọng là Washington đă nhận ra trách nhiệm hàng đầu là bảo vệ an ninh thế giới cùng loài người tiến bộ. T́nh h́nh Iraq, Afghanistan, đă tạm lắng theo như sách lược Eurasian vạch sẵn; Mỹ rút quân, nhưng vẫn c̣n nắm giữ đầu-cầu hậu cần từ Afghanistan phia Tây tây nam TQ. Phài kịp thời ngăn chặn Trung Quốc trong tham vọng bá chủ châu Á và toàn cầu, ngay khi nó đang c̣n «nín thở qua sông» theo như lời dạy cũa Mao Trạch Đông, “Chúng ta có thể lấy chiếc lá Tre mà che khuất ngọn núi Thái Sơn!” Khi con hổ c̣n chưa có nanh dài, vưốt nhọn, không th́ sẽ muộn nếu không may có vài cái đầu nóng hỗi.

Từ lư do côn-đồ đó mới có chuyện Mỹ trở lại châu Á, đúng vào thời điễm chiến lược, mới có câu nói trầm tĩnh mà mạnh mẽ của bà ngoại trưởng Hillary Clinton «Biễn Đông là vùng giao thông quốc tế hệ trọng, là nơi gắn bó với quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có trách nhiệm ở vùng này». Bà Clinton c̣n khẳng định thêm «Hoa Kỳ cho rằng các tranh chấp ở vùng Biễn Đông cần giải quyết thông qua thương lượng đa phương; Không nước nào được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, mọi giải pháp bằng vũ lực, bằng đe dọa dùng vũ lực đều không có giá trị»

Báo Mỹ cho rằng chuyến đi của bà ngoại trưởng Mỹ sang Hà Nội tháng 7 -2010 giống như chuyến đi của Ngoại trưởng Kissinger sang Bắc Kinh cuối năm 1971 (nâng đỡ TQ lên hạng-2 siêu cường nhưng thời gian ngắn thôi nhé) mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ các nước, làm đảo lộn các mối liên minh. Điều khác nhau là hồi ấy Mỹ bắt tay với Bắc Kinh làm Nhật Bản và Đài Loan nổi giận và lo, c̣n nay Mỹ trở lại châu Á, kết thân với Indonesia, Singapore, Malaysia, và Việt Nam làm cho Trung Quốc nổi giận, lồng lộn lên, dọa dẫm, nhưng cuối cùng vẫn buộc phải vào khuôn phép, v́ hiểu rơ sức ḿnh là rất có hạn. chưa thể đọ sức với Mỹ

Tất nhiên những biển chuyển trên đây trong nền ngoại giao Mỹ, rồi tiếp ngay đó là những tàu chiến Mỹ loại hiện đại nhất vào vùng biển và cặp bến cảng Việt Nam là những thông điệp mạnh, rơ mang tính thời cơ hiếm, hệ trọng, mà Bộ máy điều hành VN không thể không nghiên cứu kỹ lưỡng và quyết định đối sách thích hợp.

Tiếp theo là tháng 10 tới, Bộ trưởng quốc pḥng Hoa Kỳ đă được Bộ trưởng quốc pḥng Việt Nam mời đến Hà Nội dự cuộc họp Bộ trưởng quốc pḥng các nước Đông Nam Á, và sau đó là chuyến thăm chính thức đă được dự báo của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama.

Rồi Đại lễ Kỷ niệm Ngh́n năm Thăng Long, rồi Đại hội đảng toàn quân, Đại hội đảng toàn quốc thứ XI. Chúng ta sẽ mục kích nhiều thay đỗi đột biến vô cùng ngoạn mục trong thời gian tới, nếu quả thật sự thay đổi đường lối đối ngoại theo hướng trên đây là rơ ràng, chân thật, minh bạch, công khai, th́ ắt sẽ phản ánh đầy đủ trong mọi lời nói, mọi hành sử của các nhân vật lănh đạo từ đối nội đến đối ngoại, và không thể không có những điều chỉnh cần thiết, nhằm loại trừ dần những hậu quả tệ hại của đường lối cũ, và đi vào thực hiện ngày càng rơ-rệt, phù hợp với sự thay đổi mới, mang lại nhiều hứa hẹn tốt đẹp cho đất nước và nhân dân VN. Và điều tối quan trọng bực nhứt là chúng ta hăy chờ đợi Hoa Kỳ cắt bơ lệnh buôn bán vũ- khi cho VN; Sự thuận lư sẽ đạp đỗ sự nghịch lư, một nước VNCH hùng mạnh sẽ hiện lên trên vùng đất ĐNA là điều chắc chắn ... chờ xem!

KQ Truong Van Vinh

Article sent via Cánh Thép
http://www.canhthep.com

------------------------------------------------------------------------------------------  

 

Thời sự đất nước :  

Không thể nghi ngờ, hiểm nguy ngay trước mắt !

Mấy tuần qua, nhiều sự kiện trong quan hệ Việt - Mỹ và Việt – Trung xảy ra, dẫn đến những phán đoán và nhận định khác nhau, có khi trái ngược nhau.

Có nhận định dễ dăi, hời hợt cho rằng t́nh h́nh đă và đang’ thay đổi dồn dập’ theo hướng chính quyền hiện nay đă dám đương đầu cứng cỏi với họa bành trướng và thực hiện một hướng mới thắt chặt quan hệ bè bạn, hợp tác về quốc pḥng – an ninh với Hoa kỳ, châu Âu và Asean ; người đưa ra nhận định này c̣n phán đoán sẽ có nhiều thay đổi dồn dập nữa theo hướng tiến bộ, tôt đẹp và dân chủ (!). Được vậy th́ tốt quá ! Nhưng …

Tôi cũng ngờ ngợ điều đó, nhưng c̣n thận trọng đặt dấu hỏi ‘Bẻ lái chiến lược thật chăng? ‘. Có thể đây là một động tác giả, một biện pháp t́nh thế, chơi tṛ bắt cá 2 tay, một tay vẫn liên minh ma quỷ, một tay giả liên minh với phía khác, ḥng thoát búa ŕu phẫn nộ của đồng bàa, của trí thức đang thức tỉnh, của sỹ quan cựu chiến binh yêu nước…

T́nh h́nh nay đă rơ.

Một loạt hành động có thể gọi đúng tên là bán nước, là phản bội Tổ quốc của một nhóm người trong bộ máy đảng CS và trong bộ máy nhà nước đang diễn ra nhăn tiền, rơ ràng, không sao c̣n che dấu được. Nhóm này cực kỳ nham hiểu, xảo quyệt, đă và đang lao vào một nước cờ liều, được ăn cả, ngă về không, do mù quáng đánh giá sai t́nh h́nh, coi thường nhân dân và công luận, khinh thường ngay cái cơ chế hiện hành.

 V́ sao ngay sau khi tiếp thứ trưởng Quốc pḥng Hoa kỳ ở Hànội, Nguyễn Chí Vịnh lại sang ngay Bắc kinh, xin gặp bộ trưởng quốc pḥng Lê Quang Liệt để tường tŕnh, thanh minh? - Rằng việc tàu quân sự Mỹ cặp bến Việt nam chỉ là thỏa thuận h́nh thức kỷ niệm 15 năm quan hệ ngọai giao,  - rằng đây là theo yêu cầu của phía Mỹ,  - rằng chỉ có quan chức điạ phương Việt nam lên thăm tàu Mỹ … Việc ǵ mà phải thanh minh như thế?

Nghiêm trọng hơn, Vịnh dám đưa ra chính sách 3 không, nói rơ là : Việt nam sẽ không bao giờ tham gia một liên minh quân sự nào ; Việt nam sẽ không là đồng minh quân sự của bất cứ nước nào ; Việt nam sẽ không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt nam, không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ai cho phép Vịnh, một thứ trưởng quốc pḥng, không có chân trong bộ chính trị, không có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, không có chân trong đảng ủy quân sự trung ương, cũng không hề là đại biểu quốc hội, lại dám khẳng định một đường lối chính trị - ngoại giao - quốc pḥng trọng đại như thế? Và đường lối này chưa hề được bàn căi, quyết định, công bố bởi quốc hội, ngay khi quốc hội chỉ là một công cụ của đảng. Chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng ngoại giao và cả đến tổng bí thư đảng CS cũng chưa bao giờ công bố một đường lối chính trị - quốc pḥng - ngọai giao mang nội dung như thế. Đằng sau Vịnh là ai? Ai cho phép Vịnh công bố điều ấy? Sao lại công bố trên đất người ta?

Lư do duy nhất chỉ có thể là Vịnh đă nói theo sự mong muốn của bọn trùm bành trướng, theo chỉ thị của nhóm tay sai bọn bành trướng, nhằm tước đi quyền lựa chọn đồng minh khi cần thiết để bảo vệ lănh thổ của Tổ quốc và cuộc sống an toàn của nhân dân. Vịnh đă dâng bọn trùm bành trướng chiếc dây thừng trói chặt tay dân ta, không c̣n được quyền tự do hành động khi Tổ quốc lâm nguy, khi gặp quốc nạn th́ đành chịu chết, không được kêu cứu ai !

Hăy nghe phản ứng của phía Trung quốc. Ngay sau khi Vịnh cúi đầu khuất phục thiên triều, Trung quốc giở ngay tṛ cho tầu ngầm cắm cờ dưới đáy biển Đông, ra oai cho thiên hạ biết đây là vương quốc của ta, các nguồn tài sản dầu mỏ, hơi đốt, khoáng sản, hải sản vô tận vùng này là của ta hết. Chưa thấy phản ứng ǵ của các nhà lănh đạo ở Hànội. Hay cũng chỉ phản ứng chậm, lấy lệ, vuốt đuôi, nhẹ nhàng. Báo chí bị bịt mồm. Các mạng yêu nước ở nước ngoài bị phá liên tiếp. Một kiểu trói tay, bịt mồm để cho quan thầy bành trướng của chúng tha hồ hoành hành.

Trên Nhân dân Nhật báo Bắc kinh, cây bút b́nh luận Lư Hồng Mỹ tỏ ra ngạo mạn với lời cảnh cáo : ‘ Quan hệ Trung - Mỹ đang đi tới giai đoạn gay go, bất cứ quyết định thiếu khôn ngoan nào của Việt nam sẽ chỉ làm căng thẳng thêm khi t́nh h́nh đă tồi tệ ‘.

Bà Lê Hồng Mỹ c̣n chua ngoa : ‘ đu giây là nguy hiểm, nếu Việt nam thúc đẩy 2 cường quốc xung đột th́ Việt nam sẽ bị thiệt hại trước hết ‘.

Đúng ngày 25-8, báo China Post ở Hồng kông đăng lời đe doạ của Khương Du người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung quốc, rằng : ‘chúng tôi cảnh cáo Việt nam và Nam Hàn đă tập trận chung với Hoa kỳ, làm vậy là không tốt cho sức khỏe của họ ‘ ngụ ư là sẽ ăn đ̣n, ốm đ̣n đấy 

Khương Du c̣n láo xược và ngạo mạn khinh thường nhân dân ta, rằng ‘ Việt nam đang làm cho người Trung quốc không hài ḷng ; Hà nội có thể đánh giá quá cao khả năng bảo vệ của Mỹ ; nếu Việt nam và Trung quốc giao chiến th́ không có hàng không mẫu hạm nào của bất cứ quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh cho Việt nam ‘.

Trên đà miệt thị Việt nam, Khương Du lên giọng bĩu môi : ‘ Với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía, Việt nam hiện trong t́nh trạng mong manh như vỏ quả trứng ‘.

 

V́ sao có những lời lẽ hung hăng, xấc xược đối với nước ta đến vậy. Chỉ v́ trên đất ta hiện có một nhóm lănh đạo bạc nhược, tham nhũng, dấn thân vào con đường phản bội tổ quốc và nhân dân, nên mới bị họ khinh thị đến thế.

V́ sao họ thốt ra những lời thách thức Hoa kỳ, lên án Hoa kỳ, cảnh cáo Hoa kỳ mạnh mẽ như thế? Báo Trung quốc huênh hoang rằng Trung quốc đă đạt tổng sản lượng quốc gia lần lượt vượt Anh, vượt Đức, nay vừa vượt Nhật bản và không bao lâu nữa sẽ vượt Hoa kỳ để trở thành siêu cường số Một của thế giới ; rằng Thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Hoa (!). Nhiều học giả trong các think-tank Mỹ đă bác bỏ thẳng thừng sự ngạo mạn ấy, v́ tổng sản phẩm Trung quốc lớn do dân số quá đông, rằng tính sản phẩm theo đầu người, Trung quốc chỉ bằng 1/10 của Mỹ (3.600 US$ so với 38.000 US$), khoảng cách về tiềm lực quân sự giữa 2 nước c̣n rất lớn, phải 12 năm nữa TQ mới gần bằng tiềm lực Hoa kỳ hiện nay, khi ấy tiềm lực Hoa kỳ đă tiến rất xa. Huống ǵ Trung quốc gặp hàng loạt thách thức nghiêm trọng về dân tộc, dân chủ, nhân quyền, chênh lệch giàu nghèo, khu vực, môi trường, khoa học, kỹ thuật, giáo dục …c̣n lạc hậu, lâu mới khắc phục được.

V́ sao phó trợ lư bộ trưởng quốc pḥng Hoa kỳ Robert Scher sau khi gặp thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh tại Hànội ngày 17-8 vừa qua lại tỏ ra ’ phấn khởi, lạc quan về quan hệ quân sự - chiến lược giữa 2 nước đang được thắt chặt, nâng cao với nhiều triển vọng ‘, v́

sao đại sứ Mỹ M.Michalak cũng tin rằng ‘ quan hệ quân sự mạnh mẽ giữa 2 nước sẽ đóng góp cho ḥa b́nh, ổn định của khu vực ‘?. Họ không thấy được rơ bản chất của con người mà họ đối thoại cùng những mưu đồ của con người ấy chăng? Hay đó là những lời xă giao thuần túy của các nhà đối ngoại? Và v́ sao nữa, khi quan hệ với Việt nam và Asean đang mang nhiều triển vọng, Hoa kỳ lại không cử một đại biểu nào đến Đà nẵng để họp cuộc họp kinh tế của ASEAN mở rộng mới đây nhất?

Ở trong nước, có bạn lo ngại rằng Hoa kỳ chưa hiểu thật rơ nội t́nh chính trị ở Việt nam, nhất là về một nhóm từ 20 năm nay thực hiện quyết sách « nhất biên đảo » - ngả hẳn về một bên -, dưới chiêu bài ‘làm bạn với mọi nước’,  thắt chặt liên minh - đồng chí anh em - đồng minh ưu tiên – quan hệ toàn diện gắn bó 16 chữ Vàng với Trung quốc, dưới chiêu bài ‘không liên minh quân sự, không đồng minh quân sự với ai’.

Hăy nghe nhà ngoại giao lăo luyện Dương Danh Dy từng làm việc hơn chục năm ở Bắc kinh cho rằng hiểu cho thật rơ, thật sâu, thật đúng bản chất của chủ nghĩa Đại hán trong cái đầu các nhà lănh đạo Trung quốc không hề đơn giản, phải là một quá tŕnh lâu dài, quan sát, phán đoán, chiêm nghiệm mới ngộ ra được. V́ họ rất lắm mưu cực thâm, kế cực độc, với những ngón lọc lừa, đe dọa, mua chuộc khi th́ tinh vi, khi th́ xấc xược ra mặt, thù bạn xoay như chong chóng, thực hư hư thực đan xen, lồng vào nhau…

Hiện nay họ đang thao diễn trên đất nước ta một đại âm mưu, biến Việt nam thành một thuộc địa kiểu mới, một chư hầu kiểu mới, một tay sai kiểu mới, nhằm đi đến khống chế, khuất phục toàn vùng Đông Nam Á có nhiều nước nhỏ, tài nguyên vô tận về khoáng sản, nhiên liệu, hải sản, có đường hàng hải huyết mạch …

Cái sai lầm lớn nhất của bọn Đại hán mới và bọn tay sai là chúng luôn chủ quan, duy ư chí, tham lam, nôn nóng, nghĩ rằng phương Tây đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - tài chính và suy thoái, chính quyền B. Obama bị vướng vào chiến tranh, đây là thời cơ vùng dậy. Trong cơn say bành trướng, chúng quên khuấy lời khuyên của Đặng Tiểu B́nh là hăy

giấu ḿnh, khiêm nhường trong vài chục năm, chờ cho khi có thực lực hăy khởi sự, cần  ‘ nín thở qua sông’, thu nhanh khoảng cách với thiên hạ đă.

Trong cơn liều có tính toán hiện tại ở Việt nam, xem ra bọn trùm bành trướng Bắc kinh và nhóm tay sai đang tính sai, đang phán đoán sai.

Cái sai lớn nhất là bọn chúng coi thường nhân dân ta, những người công dân b́nh thường, nông dân, lao động, trí thức, văn nghệ sỹ, học sinh …cho rằng đa số nhân dân trong thời « đổi mới » hài ḷng với cuộc sống có được cải tiến ít nhiều, không c̣n nghĩ ǵ đến việc nước, đến quốc sự, hay có nghĩ th́ cũng không dám dấn thân.

Bọn chúng cũng khinh thường cái cơ chế hiện hành, do chúng đă mua chuộc được một số nhân vật cốt cán, khống chế những người c̣n lại. Khi cần chúng có thể gạt bỏ dễ dàng chủ tịch nước, thủ tướng, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao, các bộ trưởng, các tướng lĩnh, nếu không cúi đầu theo chúng. V́ chúng quen lộng quyền, và đàn áp.

Nguyễn Chí Vịnh không phải không có kẻ đối kháng trong quân đội. Gần 20 viên tướng trong uỷ ban trung ương đảng đều có quá tŕnh, thành tích vượt xa Vịnh, trong khi Vịnh bị đánh giá là ‘không xứng đáng là một sỹ quan sơ cấp’, bị nhiều tướng lĩnh công khai ngăn cản ‘không được cử Vịnh đi dự Đại hội đảng toàn quân’ (sắp họp vào tháng 11 tới ) cũng như Đại hội đảng toàn quốc (tháng 1-2011). Hăy xem, dễ ǵ mà đại tướng Phùng Quang Thanh, đại tướng Lê Văn Dũng, đại tướng Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng Nguyễn Văn Được, thượng tướng Phan Trung Kiên cũng như các trung tướng Huỳnh Ngọc Sơn, Bùi Văn Huấn, Trương Quang Khánh, Nguyễn Khắc Nghiêm, tất cả đều có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, lại chịu để cho Vịnh vượt qua đầu ḿnh, khi Vịnh đă bị loại dứt khoát tại cuộc họp trung ương cuối của khoá IX năm 2006, dù đă được chính tổng bí thư Nông Đức Mạnh đích thân giới thiệu.

Trong nước, các trí thức quan tâm đến việc nước, các văn nghệ sỹ có công tâm, các đảng viên cộng sản trung thực, các tướng lĩnh, sỹ quan, binh sỹ, cựu chiến binh thật ḷng v́ nhân dân đang t́m hiểu để xác định một vấn đề hệ trọng. Đó là có một nhóm có thể gọi là ‘nhóm tay sai của Bắc kinh’, nhóm tay trong của bọn bành trướng, nhóm tự nguyện làm chư hầu cho thiên triều, chúng gồm có những ai? Những ai là đầu sỏ, những ai là a dua, theo đóm ăn tàn, ai là cánh tay, bộ hạ tạo nên thế lực của chúng? Đă đến lúc những người yêu nước thương dân xem xét, lập hồ sơ, nhận rơ diện mạo của chúng.

Bọn bành trướng Đại Hán rât thâm, rất độc, chúng không nương nhẹ với bọn tay sai, chúng cố t́nh làm nhục chúng, dồn chúng vào đường cùng không chút nể nang, thương xót, v́ chúng cho rằng càng ở thế cùng, chúng càng bám chân chủ. Những lời mắng mỏ trịch thượng gần đây nhất, dám cảnh cáo, đe doạ nhân dân ta, dù cho Nguyễn Chí Vịnh đă cúi ḿnh thanh minh, chứng tỏ sự thâm độc của chủ và nỗi nhục ê chề của kẻ tôi tớ.

Thời cuộc tháng 9 và tháng 10 tới sẽ đầy những sự kiện nghiêm trọng. Đại lễ Ngàn năm Thăng long sẽ diễn ra từ 1-10 đến 10-10 ; 1-10 lại là ngày quốc khánh Trung quốc. 12-10 họp bộ trưởng quốc pḥng các nước ASEAN mở rộng tại Hànội, có bộ trưởng quốc pḥng Hoa kỳ và Trung quốc dự. Ngày 20-10 sẽ họp quốc hội cho đến 27-11. Chủ nhiệm Ủy ban quốc pḥng – an ninh Lê Quang B́nh yêu cầu sẽ nghe báo cáo về t́nh h́nh biển Đông, bị chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng gạt đi ‘v́ một năm nay không có ǵ mới’ (!). Nhiều đại biểu tỏ rơ ư định sẽ nhấn mạnh yêu cầu này.

Các đại hội đảng của Hà nội, Sàig̣n, của quân đội, ngành công an, các cơ quan trung ương …sẽ họp, cử đoàn đại biểu đi dự đại hội toàn quốc. Những hoạt động của nhóm bán ḿnh cho quỷ dữ sẽ dần dần lộ rơ, không sao c̣n che dấu được. Đây là thước đo t́nh trạng sức khỏe của đảng CS, xem trong đảng, lực lượng khoẻ khoắn lành mạnh có tồn tại và vươn dậy ra sao, hay toàn đảng đă suy yếu đến tận cùng, không c̣n một sức đề kháng nào trước hiểm họa dân tộc.

Đây cũng là thước đo xem trong xă hội ta, lực lượng yêu nước, thương dân, ngay thẳng, trỗi dậy trứớc hiểm họa dân tộc sẽ thể hiện ra sao trong cơn nguy biến của Quê hương, Tổ quốc.

Tôi bỗng nghĩ đến số phận của Lũ 4 tên (Tứ Nhân Bang ) ở Trung quốc, thanh thế lên như diều trong 3 năm Cách mạng Văn hóa điên loạn, có hàng 50 vạn tay sai thân tín, thế mà sau khi ông Mao Trạch Đông chết (ngày 9-9-1976) chưa đầy tháng đă bị tóm gọn từ trên xuống dưới vào đêm 6-10-1976, dù cho Giang Thanh là vợ của Mao, là ủy viên bộ chính trị, cũng như Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn uy lực ghê gớm một thời, vẫn bị trói tay, tống giam, ra ṭa và cúi đầu nhận tội với nhân dân, đất nước.

Đất nước đang lâm nguy thật sự. Sự phản bội đất nước đang diễn ra rơ ràng, nghiêm trọng.

Những người yêu nước thật ḷng, thương dân thật ḷng, - trong đảng CS và ngoài đảng CS, trong nước và ngoài nước -, các anh chị em trí thức, văn nghệ sỹ, các nhà báo chân chính, sinh viên, học sinh, tuổi trẻ, nông dân, lao động, nhà kinh doanh tự do … hăy t́m hiểu t́nh h́nh, t́m lối ra cho đất nước.

Xin chớ ai bàng quan, thờ ơ, buông trôi thời cuộc, hăy nói lên ư nghĩ của ḿnh và t́m ra hành động chung để cứu dân cứu nước, cũng là cứu ḿnh vậy.

Bùi Tín        Paris 28-8-2010

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

 ÁNH SÁNG MỚI 2015 ONLINE 

TIN TỨC THỜI SỰ CHÍNH TRỊ - TÀI LIỆU TỔNG HỢP 12

 

anhsangmoi2015.com

anhsangmoi2015.org

 

Cơ quan ngôn luận của ĐẢNG CÁCH MẠNG B̀NH XĂ VIỆT

Chủ trương và Biên tập :  Lư Nguyễn Thiên Quư  ( Huyên Chương Quư )

 

------------------------------------------------------------------------------------------------------